Thông tin với các cơ quan báo chí ngày 22/5 về một số nội dung liên quan đến biện pháp hoãn xuất cảnh khi nợ thuế, ông Mai Sơn, Phó Cục trưởng Cục Thuế cho biết, sau 30 ngày kể từ khi gửi thông báo mà người nộp thuế không liên hệ với cơ quan thuế, không hoàn thành nghĩa vụ thuế thì cơ quan thuế mới ban hành thông báo tạm hoãn xuất cảnh.

4 nhóm đối tượng áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh

Ngày 22/5, Cục Thuế tổ chức họp báo chuyên đề thông tin về những nội dung liên quan đến quy định về tạm hoãn xuất cảnh.

Chia sẻ tại họp báo chuyên đề, ông Mai Sơn, Phó Cục trưởng Cục Thuế cho biết việc tạm hoãn xuất cảnh đã được quy định tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, có hiệu lực từ ngày 1/7/2020 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 56/2024/QH15. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2025/NĐ-CP ngày 28/2/2025 quy định cụ thể ngưỡng áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với từng nhóm đối tượng.

Ông Mai Sơn, Phó Cục trưởng Cục Thuế chia sẻ tại họp báo chuyên đề
Ông Mai Sơn, Phó Cục trưởng Cục Thuế chia sẻ tại họp báo chuyên đề

Theo quy định hiện hành, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng đối với 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh thuộc diện bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế có số tiền nợ từ 50 triệu đồng trở lên và quá thời hạn nộp trên 120 ngày.

Thứ hai, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế với số nợ từ 500 triệu đồng trở lên và quá hạn nộp trên 120 ngày.

Thứ ba, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký nhưng vẫn còn nợ thuế quá hạn và sau 30 ngày kể từ khi cơ quan thuế thông báo sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế.

Thứ tư, người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài trước khi xuất cảnh khỏi Việt Nam nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế quá hạn.

Triển khai nhiều bước thông báo trước khi áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh

Liên quan đến phản ánh của một số cơ quan báo chí về việc người nộp thuế bị tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế số tiền nhỏ, ông Mai Sơn cho biết qua rà soát dữ liệu, các trường hợp được nêu chủ yếu là cá nhân đã bỏ địa chỉ kinh doanh, không thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế theo quy định.

Theo đại diện Cục Thuế, trước khi áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, cơ quan thuế đã thực hiện nhiều bước thông báo và liên hệ với người nộp thuế như phối hợp chính quyền địa phương xác minh địa chỉ hoạt động; gửi thông báo nợ thuế qua email, điện thoại, địa chỉ đăng ký; gửi thông báo sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trước 30 ngày đến tài khoản thuế điện tử và địa chỉ cư trú; đồng thời công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế.

Toàn cảnh Họp báo
Toàn cảnh Họp báo

Đại diện Cục Thuế cũng cho biết, hiện có một số thông tin phản ánh chưa đầy đủ về quá trình xử lý của cơ quan thuế, dễ dẫn tới hiểu chưa đúng quy định pháp luật và gây tâm lý hoang mang cho người dân.

“Sau 30 ngày kể từ khi gửi thông báo mà người nộp thuế không liên hệ với cơ quan thuế, không hoàn thành nghĩa vụ thuế thì cơ quan thuế mới ban hành thông báo tạm hoãn xuất cảnh”, ông Mai Sơn nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) cho biết, thời gian qua cơ quan thuế đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ người nộp thuế chủ động thực hiện nghĩa vụ trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế. Theo đó, cơ quan thuế tăng cường tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, gửi thư ngỏ, công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử và ứng dụng etax Mobile để người nộp thuế kịp thời tra cứu nghĩa vụ thuế.

Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) cho biết, thời gian qua cơ quan thuế đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ người nộp thuế chủ động thực hiện nghĩa vụ trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế
Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) cho biết, thời gian qua cơ quan thuế đã triển khai đồng bộ 
nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ người nộp thuế chủ động thực hiện nghĩa vụ trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế

Song song với đó, ngành thuế cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối dữ liệu điện tử với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Ngày 12/5/2026, Cục Thuế và Cục Quản lý xuất nhập cảnh đã ký Quy chế phối hợp số 01/QCPH-CT-QLXNC về truyền nhận thông tin tạm hoãn xuất cảnh và hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh bằng phương thức điện tử. Theo đó, ngay khi cơ quan thuế ký điện tử thông báo tạm hoãn hoặc hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh, dữ liệu sẽ được truyền tự động sang cơ quan xuất nhập cảnh, góp phần rút ngắn thời gian xử lý và bảo đảm quyền lợi của người nộp thuế sau khi hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.

Trần Nam

Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) phối hợp Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh tổ chức khóa cuối cùng tại địa phương. Đây là hoạt động trong chuỗi 5 khóa thuộc khuôn khổ dự án liên quan.Chương trình thuộc Dự án “Hệ sinh thái năng suất vì việc làm thỏa đáng” – sáng kiến của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), do Tổng cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ và Chính phủ Na Uy tài trợ nhằm hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng suất bền vững gắn với việc làm thỏa đáng. Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể là cơ quan chủ quản dự án, phối hợp triển khai cùng ILO tại Việt Nam.

Ông Đinh Trung Dũng, đại diện Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính phát biểu khai mạc khóa học
Ông Đinh Trung Dũng, đại diện Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp, 
Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính phát biểu khai mạc khóa học

Khóa đào tạo diễn ra trực tiếp trong 2 ngày (21-22/5), với mục tiêu nâng cao năng lực cho các cán bộ hỗ trợ doanh nghiệp tại các địa phương, các tổ chức hiệp hội về xu hướng thị trường hướng tới tính bền vững; nâng cao năng lực về chuyển đổi số, kinh nghiệm tư vấn thực tiễn trong ngành sản xuất; nâng cao nhận thức về năng suất xanh; an toàn lao động và cải thiện điều kiện làm việc trong ngành sản xuất hướng đến cải thiện năng suất và việc làm thỏa đáng.

Ông Lê Đắc Thuật, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh
Ông Lê Đắc Thuật, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh

Nội dung đào tạo tập trung vào các vấn đề: Liên kết giữa năng suất – chuyển đổi số – chuyển đổi xanh – điều kiện làm việc; vai trò của đánh giá nhu cầu trong thiết kế chương trình hỗ trợ DNNVV; giới thiệu các bộ công cụ đánh giá; xu hướng thị trường và yêu cầu mới trong tăng trưởng xanh và phát triển bền vững; các giải pháp chuyển đổi xanh trọng tâm và khả thi giúp doanh nghiệp tiết kiệm nguyên liệu, giảm hao hụt; tăng hiệu quả sử dụng năng lượng…

Ông Đinh Trung Dũng, đại diện Trung tâm Hỗ trợ Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể mong muốn với những nội dung đào tạo phong phú, chương trình tập trung vào các nhóm hoạt động cụ thể và cần thiết, liên quan tới xu hướng thị trường bền vững và yêu cầu “xanh hóa” cũng như đánh giá tác động, tư vấn giải pháp chuyển đổi kép cho các doanh nghiệp sản xuất thông qua việc áp dụng khung báo cáo ESG, công cụ tự đánh giá bền vững Basic Sustainability Assessment Tool (BSAT ),…giúp doanh nghiệp thể hiện sự minh bạch, trách nhiệm và định hướng rõ ràng về các hoạt động phát triển bền vững.

“Chúng tôi hy vọng, chương trình đào tạo này sẽ giải đáp được các thắc mắc mà các học viên, doanh nghiệp quan tâm để hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp”, ông Đinh Trung Dũng chia sẻ.

Các học viên và Ban Tổ chức chụp ảnh lưu niệm
Các học viên và Ban Tổ chức chụp ảnh lưu niệm

Ông Lê Đắc Thuật, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh đánh giá, Chương trình đào tạo rất có ý nghĩa nhằm nâng cao năng lực tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy năng suất và việc làm bền vững thông qua chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Qua đó, Chương trình sẽ giúp các doanh nghiệp nhận diện được các xu hướng thị trường bền vững và tác động đến năng suất, từ đó giúp doanh nghiệp lựa chọn và áp dụng các giải pháp phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, tăng cường kết nối chia sẻ thực tiễn và thúc đẩy mô hình phát triển.

Chương trình số 21-CTr/TU của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh về “phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026-2030” được xem là bước đi chiến lược nhằm đưa kinh tế tư nhân thật sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế tỉnh. Theo thống kê, hiện, tỉnh Bắc Ninh đang có hơn 30.000 doanh nghiệp đang hoạt động, mục tiêu đến năm 2030, tỉnh Bắc Ninh phấn đấu có 85.000 doanh nghiệp hoạt động.

Trần Nam

(sav.gov.vn) – Chiều 22/5, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước (KTNN) tổ chức họp nghiệm thu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Hoàn thiện nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp trong điều kiện áp dụng chế độ kế toán toán mới” do ThS. Nguyễn Thị Thu Trung – Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán làm Chủ nhiệm. TS. Vũ Thanh Hải – Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành IV làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, cùng tham dự cuộc họp có các thành viên Hội đồng nghiệm thu và Ban đề tài.

Quang cảnh cuộc họp
Quang cảnh cuộc họp

Ngày 17/4/2024 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 24/2024/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp với nhiều thay đổi đáng kể so với các quy định cũ, như: cho phép các đơn vị tự thiết kế, tự kê khai, tự chịu trách nhiệm về chứng từ kế toán, sổ kế toán của đơn vị mình, nơi nhận báo cáo tài chính….

Quy định mới ảnh hưởng nhiều tới công tác kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp, thay đổi kết quả thông tin mà đơn vị cung cấp – chủ yếu là các thông tin trên báo cáo tài chính và các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, tài sản công tại các đơn vị. Từ đó, tác động đến nội dung kiểm toán các đơn vị hành chính sự nghiệp của KTNN.

Theo ThS. Nguyễn Thị Thu Trung, chế độ kế toán mới giúp hệ thống thông tin tài chính, kế toán tại các đơn vị được chuẩn hoá, minh bạch và phù hợp với yêu cầu quản lý hiện đại. Nhờ đó, các kiểm toán viên (KTV) có điều kiện tiếp cận nguồn dữ liệu đầy đủ, có cấu trúc rõ ràng hơn, thuận lợi cho việc phân tích, đối chiếu và xác minh thông tin, góp phần nâng cao chất lượng bằng chứng kiểm toán và độ tin cậy của kết luận kiểm toán.

Quá trình chuyển đổi đồng thời về chế độ kế toán và tổ chức hành chính đã làm lộ rõ các khu vực tiềm ẩn rủi ro cao trong quản lý tài chính công, như: bàn giao tài sản, xử lý công nợ, chuyển tiếp dự án đầu tư và điều chỉnh nguồn kinh phí. Đây là cơ sở quan trọng để KTNN xác định trọng tâm kiểm toán một cách rõ ràng và có căn cứ.

Tuy nhiên, những thay đổi trong hệ thống kế toán mới cũng đòi hỏi KTNN phải định hình lại quy trình kiểm toán, ứng dụng dữ liệu lớn, tự động hóa, phân tích từ xa. Đồng thời, cần chuẩn hóa quy trình, rút gọn hồ sơ nhưng vẫn bảo đảm chất lượng trong thời gian ngắn.

TS. Vũ Thanh Hải - Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành IV, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu
TS. Vũ Thanh Hải – Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành IV, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu

Từ thực tiễn nêu trên, Ban đề tài đã hệ thống hóa các nội dung liên quan đến đơn vị hành chính, sự nghiệp, cơ chế quản lý tài chính và nhiệm vụ kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp; tổng hợp, phân tích các điểm mới của chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp theo Thông tư số 24/2024/TT-BTC so với các quy định trước đây. Từ đó, chỉ ra những ảnh hưởng đến hoạt động kiểm toán và đề xuất hoàn thiện nội dung kiểm toán đối với một số khoản mục và nhóm nghiệp vụ trọng yếu.

Tại buổi nghiệm thu, các thành viên Hội đồng đánh giá, Thông tư số 24/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành đã tác động trực tiếp đến hoạt động kiểm toán, do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện nội dung kiểm toán trong bối cảnh áp dụng chế độ kế toán mới là phù hợp với yêu cầu thực tiễn của KTNN hiện nay.

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho KTV khi nghiên cứu, cập nhật các thay đổi của chế độ kế toán hành chính sự nghiệp và vận dụng vào quá trình kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán. Đề tài cũng có thể phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nhất là trong bối cảnh các đơn vị hành chính, sự nghiệp bắt đầu triển khai áp dụng chế độ kế toán mới và có thể phát sinh nhiều lúng túng, sai sót trong hạch toán, lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán và quản lý tài chính, tài sản công.

ThS. Nguyễn Thị Thu Trung - Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán trình bày kết qủa nghiên cứu
ThS. Nguyễn Thị Thu Trung – Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán trình bày kết qủa nghiên cứu

Để hoàn thiện đề tài, Hội đồng nghiệm thu khuyến nghị Ban đề tài bổ sung lý luận về kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp, từ đó, phân tích ảnh hưởng của việc thay đổi chế độ kế toán mới đến các nội dung kiểm toán; tinh gọn phần nền tảng, làm rõ hơn tính mới của Thông tư, tăng dung lượng cho phần phân tích ảnh hưởng tới kiểm toán và phần giải pháp hoàn thiện nội dung kiểm toán để bảo đảm đúng trọng tâm nghiên cứu.

Ban đề tài lưu ý tham khảo các văn bản quy định có liên quan của KTNN hiện hành để gia tăng tính thực tiễn và khả thi của các giải pháp, đồng thời có thể bổ sung kiến nghị phù hợp, cụ thể như: Hướng dẫn kiểm toán ngân sách bộ, ngành, cơ quan trung ương ban hành theo Quyết định số 154/QĐ-KTNN ngày 15/02/2021; Hướng dẫn kiểm toán ngân sách địa phương ban hành theo Quyết định số 185/QĐ-KTNN ngày 05/02/2026 thay thế cho Quyết định 111/QĐ-KTNN ngày 04/02/2021…

Các thành viên Hội đồng đánh giá cao kết quả nghiên cứu của Ban đề tài
Các thành viên Hội đồng đánh giá cao kết quả nghiên cứu của Ban đề tài

Phát biểu kết luận buổi nghiệm thu, TS. Vũ Thanh Hải – Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu – đánh giá cao kết quả nghiên cứu của Ban đề tài. Các kiến nghị của đề tài có tính ứng dụng trong thực tiễn hoạt động kiểm toán.

Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu đề nghị Ban đề tài tiếp thu tối đa các ý kiến của Hội đồng, trong đó lưu ý một số nội dung: Tinh gọn và làm nổi bật tính mới của đề tài; khoanh vùng phạm vi nghiên cứu, đi sâu vào những điểm mới của Thông tư số 24/2024/TT-BTC tác động đến quy trình, phương thức kiểm toán; bổ sung nội dung về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ vào hoạt động kiểm toán; gắn chặt các giải pháp, kiến nghị với việc sửa đổi hướng dẫn quy trình kiểm toán hiện hành nhằm gia tăng giá trị của đề tài.

Hội đồng nghiệm thu đánh giá đề tài xếp loại Khá./.

Việc chuẩn hóa dữ liệu kế toán không chỉ là câu chuyện tuân thủ pháp luật mà còn là điều kiện để doanh nghiệp nâng cao uy tín, tăng khả năng tiếp cận vốn và phát triển bền vững.

Trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng đẩy mạnh chuyển đổi số và sử dụng nhiều hệ thống dữ liệu phục vụ quản trị, báo cáo tài chính và điều hành sản xuất kinh doanh, yêu cầu minh bạch hóa sổ sách kế toán đang trở thành vấn đề cấp thiết.

Theo các chuyên gia, ranh giới giữa quản trị dữ liệu hợp pháp và hành vi che giấu doanh thu, làm sai lệch nghĩa vụ thuế cần được kiểm soát chặt chẽ hơn nhằm ngăn ngừa thất thu ngân sách và bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch.

Theo cơ quan thuế, qua rà soát trên phạm vi cả nước đã phát hiện hơn 400 doanh nghiệp có doanh thu từ 1.000 tỷ đồng mỗi năm nhưng vẫn kê khai lỗ.

Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp dù báo lỗ kéo dài vẫn liên tục mở rộng quy mô, tăng vốn đầu tư, làm dấy lên nghi vấn về tính trung thực trong kê khai thuế và chấp hành pháp luật kế toán.

Bà Nguyễn Thị Lan Anh, Trưởng ban Pháp chế, Cục Thuế (Bộ Tài chính) cho biết khi xuất hiện chênh lệch giữa dữ liệu nội bộ và báo cáo tài chính, cơ quan thuế sẽ không đánh giá đơn thuần trên con số mà xem xét bản chất và nguyên nhân của sự khác biệt.

Theo bà Nguyễn Thị Lan Anh, trong thực tế, sự chênh lệch số liệu có thể xuất phát từ khác biệt về thời điểm ghi nhận doanh thu, phương pháp phân bổ chi phí hoặc mô hình quản trị riêng của từng doanh nghiệp.

Hộ kinh doanh cài đặt phần mềm eTax Mobile tự kê khai thuế. (Ảnh: Thu Hiền/TTXVN)
Hộ kinh doanh cài đặt phần mềm eTax Mobile tự kê khai thuế. (Ảnh: Thu Hiền/TTXVN)

Tuy nhiên, doanh nghiệp phải có khả năng giải trình rõ ràng và lưu trữ đầy đủ hồ sơ, chứng từ để chứng minh tính hợp lý của số liệu. “Điều quan trọng là doanh nghiệp phải có quy trình dữ liệu rõ ràng để giải trình được nguyên nhân của sự chênh lệch,” bà Nguyễn Thị Lan Anh nhấn mạnh.

Theo đại diện cơ quan thuế, khi đánh giá hệ thống dữ liệu doanh nghiệp, cơ quan quản lý thường dựa trên ba tiêu chí cốt lõi gồm tính trung thực và nhất quán của dữ liệu; khả năng đối chiếu, kiểm chứng; và mức độ phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh.

Trong khi đó, ông Lê Long, Phó Cục trưởng Cục Thuế cho biết tình trạng doanh nghiệp sử dụng song song hai hệ thống sổ kế toán để che giấu doanh thu, gian lận thuế đang diễn biến ngày càng phức tạp.

Theo ông Lê Long, hành vi này không chỉ nhằm giảm nghĩa vụ thuế mà còn có thể phục vụ việc lập báo cáo tài chính thiếu trung thực để vay vốn ngân hàng, tham gia đấu thầu hoặc phục vụ các mục đích sai lệch khác.“Điều đáng lo ngại là hành vi này có thể diễn ra có hệ thống, rất tinh vi và khó phát hiện nếu không có các giải pháp quản lý dữ liệu phù hợp,” ông Lê Long nhận định.

Thực tế thời gian qua đã xuất hiện nhiều vụ việc lớn liên quan đến hành vi sử dụng song song nhiều hệ thống kế toán để che giấu doanh thu.

Theo thông tin từ Cục Thuế, vụ án tại Công ty Hoàng Long được xác định sử dụng hai hệ thống sổ sách kế toán nhằm che giấu doanh thu, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước hơn 241 tỷ đồng.

Tương tự, Công ty trách nhiệm hữu hạn Bảo Tín Minh Châu bị phát hiện sử dụng hai phần mềm kế toán để quản lý và kê khai thuế, gây thất thu khoảng 150 tỷ đồng.

Ông Lê Hồng Quang, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần MISA, cho rằng việc sử dụng song song nhiều hệ thống dữ liệu hiện khá phổ biến, đặc biệt tại các doanh nghiệp vừa và lớn.

Theo ông Lê Hồng Quang, có hệ thống phục vụ báo cáo tuân thủ, có hệ thống phục vụ quản trị chi tiết hoặc dữ liệu tạm tính để điều hành hoạt động kinh doanh. Vì vậy, việc tồn tại nhiều lớp dữ liệu không đồng nghĩa với hành vi vi phạm. Tồn tại nhiều hệ thống dữ liệu không phải vấn đề cốt lõi. Điều quan trọng là dữ liệu có đồng bộ, kiểm soát và đối chiếu được hay không. Nếu có sự chênh lệch nhưng doanh nghiệp không giải trình được thì rất dễ phát sinh rủi ro pháp lý.

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu doanh nghiệp ngày càng đa tầng và được khai thác cho nhiều mục tiêu khác nhau. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ đầu tư công nghệ mà còn phải chuẩn hóa quy trình quản trị dữ liệu.

Bà Trương Thị Mai Phương, Phó Trưởng phòng Quản lý giám sát kế toán doanh nghiệp, Cục Quản lý Giám sát kế toán kiểm toán (Bộ Tài chính) cho rằng cần phân biệt rõ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị trong doanh nghiệp.

Theo bà Trương Thị Mai Phương, kế toán tài chính phục vụ việc lập báo cáo cho các đối tượng bên ngoài như cơ quan thuế, ngân hàng, nhà đầu tư, thanh tra; trong khi kế toán quản trị phục vụ hoạt động điều hành nội bộ và phân tích tài chính.

(Ảnh: Nguyễn Thảo/TTXVN)
(Ảnh: Nguyễn Thảo/TTXVN)

“Việc tồn tại đồng thời hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế toán quản trị là phù hợp với quy định của pháp luật và không thể mặc nhiên coi đó là hành vi vi phạm,” bà Trương Thị Mai Phương nhấn mạnh.

Tuy nhiên, bà cũng lưu ý pháp luật nghiêm cấm việc lập từ hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên. Theo khoản 10 Điều 13 Luật Kế toán năm 2015, đây là hành vi bị cấm do thường gắn với mục đích che giấu doanh thu, ghi nhận sai chi phí hoặc làm sai lệch nghĩa vụ thuế.

Theo bà Trương Thị Mai Phương, ranh giới không nằm ở việc doanh nghiệp có bao nhiêu phần mềm, bao nhiêu bảng dữ liệu hay bao nhiêu báo cáo nội bộ, mà nằm ở tính trung thực, nhất quán và mục đích sử dụng dữ liệu.

Theo các chuyên gia, để ngăn chặn hành vi trốn thuế từ gốc, ngoài thanh tra và kiểm tra truyền thống, cần đẩy mạnh quản lý dựa trên dữ liệu số, kết nối liên thông hóa đơn điện tử, ngân hàng, cơ quan thuế và hệ thống kế toán doanh nghiệp.

Trong bối cảnh yêu cầu minh bạch tài chính ngày càng cao, việc chuẩn hóa dữ liệu kế toán không chỉ là câu chuyện tuân thủ pháp luật mà còn là điều kiện để doanh nghiệp nâng cao uy tín, tăng khả năng tiếp cận vốn và phát triển bền vững./.

 

(CTO) – Ngày 22-5, Hội đồng khoa học do Sở Khoa học và Công nghệ TP Cần Thơ chủ trì tổ chức xét duyệt đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro pháp lý đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP Cần Thơ”.

Hội đồng xét duyệt đề tài.
Hội đồng xét duyệt đề tài.

Có 2 đơn vị đăng ký thực hiện đề tài, tuy nhiên do không có đơn vị nào đáp ứng được về nội dung nghiên cứu, yêu cầu, kinh phí… nên hội đồng quyết định không chọn đơn vị nào. Đề tài sẽ được Sở Khoa học và Công nghệ TP Cần Thơ thông báo tuyển chọn lại trong thời gian tới.

Đề tài có mục tiêu chung là xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hạn chế rủi ro pháp lý đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ; phân tích thực trạng việc tiếp cận, tuân thủ pháp luật và rủi ro pháp lý của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố. Từ đó, đề xuất các giải pháp khả thi, hiệu quả nhằm tăng cường pháp chế, góp phần tạo môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh, hợp pháp, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP Cần Thơ trong kỷ nguyên mới.

Tin, ảnh: LỆ THU

UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030 trên địa bàn tỉnh

Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.
Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.

Kế hoạch được xây dựng nhằm cụ thể hóa Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 14/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ, tạo cơ sở triển khai đồng bộ, hiệu quả các chính sách hỗ trợ pháp lý cho khu vực kinh tế tư nhân.

Kế hoạch đặt mục tiêu tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật cho DNNVV và hộ kinh doanh theo hướng chuyên nghiệp, bám sát nhu cầu thực tiễn, lấy đối tượng thụ hưởng làm trung tâm. Qua đó góp phần nâng cao ý thức, thói quen và văn hóa tuân thủ pháp luật trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát huy vai trò chủ động của doanh nghiệp và các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp trong xử lý các vướng mắc pháp lý phát sinh.

Để đạt mục tiêu đề ra, tỉnh tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách liên quan đến hỗ trợ pháp lý cho DNNVV; tham gia góp ý các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, triển khai các hình thức bồi dưỡng trực tuyến, E-learning phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp ở xa.

Cùng với đó, các sở, ngành sẽ tăng cường cung cấp, cập nhật thông tin pháp lý trên Cổng/Trang thông tin điện tử; duy trì, khai thác cơ sở dữ liệu về các vụ việc, vướng mắc pháp lý; công khai văn bản trả lời kiến nghị của doanh nghiệp; xây dựng chuyên mục truyền thông chính sách trên các phương tiện thông tin đại chúng và nền tảng số.

Hoạt động bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp và đội ngũ làm công tác hỗ trợ pháp lý được tổ chức linh hoạt theo hình thức trực tiếp và trực tuyến. Đồng thời, tỉnh đẩy mạnh tư vấn pháp luật thông qua đối thoại chuyên đề, tư vấn lưu động tại khu công nghiệp, cũng như tương tác hỏi – đáp trên môi trường mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ hỗ trợ.

UBND tỉnh giao Sở Tư pháp chủ trì theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn và tổng hợp kết quả thực hiện; Sở Tài chính tham mưu bố trí kinh phí; các sở, ban, ngành, địa phương và các tổ chức liên quan phối hợp triển khai đồng bộ các nhiệm vụ. Các cơ quan báo chí trên địa bàn tăng cường tuyên truyền chính sách, pháp luật và hoạt động hỗ trợ pháp lý, góp phần đồng hành cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

Xem chi tiết nội dung Kế hoạch tại file đính kèm./

Bộ Tư pháp đang thẩm định Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) nhằm thể chế hóa đầy đủ các định hướng lớn của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thể chế hóa các Nghị quyết trụ cột

Sau hơn 8 năm triển khai Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), khuôn khổ pháp lý hỗ trợ DNNVV từng bước được hoàn thiện với 8 Nghị định và khoảng 20 Thông tư, các quy định về hỗ trợ đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân… tại các pháp luật chuyên ngành đã tạo ra một hệ thống chính sách hỗ trợ DNNVV xuyên suốt và tương đối đầy đủ.

Tuy nhiên, quá trình triển khai Luật đã bộc lộ một số hạn chế, làm cho các chính sách hỗ trợ DNNVV chưa thực sự hiệu quả, kém hấp dẫn đối với các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là DNNVV đang phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các doanh nghiệp trên thế giới và trong khu vực.

Vì vậy, việc nghiên cứu sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ DNNVV là cần thiết, đảm bảo thể chế hoá đầy đủ chủ trương của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và góp phần hoàn thiện thể chế hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Ảnh TTXVN
Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Ảnh TTXVN

Hiện nay, dự án Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) do Bộ Tài chính xây dựng tập trung vào 4 nhóm chính sách trọng tâm. Nhóm chính sách 1 sẽ sửa đổi tiêu chí xác định DNNVV, bổ sung quy định xác định một số nhóm DNNVV ưu tiên hỗ trợ, từ đó đề xuất xây dựng chính sách đặc thù hoặc thiết kế các chương trình hỗ trợ ưu tiên trong từng thời kỳ.

Nhóm chính sách 2 là sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ DNNVV, nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, định hướng của Bộ Chính trị về phát triển phát triển kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Nhóm chính sách 3 là phát triển hệ sinh thái hỗ trợ DNNVV, các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm doanh nghiệp dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa Nhà nước – Doanh nghiệp – Tổ chức tài chính.

Nhóm chính sách 4 tập trung đổi mới công cụ, phương thức, cơ chế tài chính thực hiện hỗ trợ DNNVV và số hóa toàn diện quy trình hỗ trợ, giám sát và đánh giá kết quả hỗ trợ.

Theo bà Trịnh Thị Hương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính, việc thiết kế các nhóm chính sách hỗ trợ DNNVV nhằm kịp thời thể chế hóa các Nghị quyết của Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Luật sẽ sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ DNNVV về tín dụng, tài chính, hỗ trợ thuế và kế toán; hỗ trợ về đất đai, mặt bằng sản xuất và kinh doanh trong khu cụm công nghiệp; bổ sung quy định doanh nghiệp được tiếp cận với các quỹ tài sản công, trụ sở, nhà xưởng, mặt bằng sản xuất công còn dôi dư; hỗ trợ về thông tin, tư vấn pháp lý; nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số…

Bảo đảm thực thi chính sách hiệu quả, thực chất

Trao đổi tại cuộc họp Hội đồng thẩm định chính sách của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) do Bộ Tư pháp tổ chức, đại diện Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, dự thảo Luật đã bổ sung nhiều đối tượng được hưởng ưu đãi như DNNVV do người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ, DNNVV kinh doanh bền vững, áp dụng ESG, DNNVV tiên phong…

Để các chính sách phát huy hiệu quả thực chất, cần thiết kế thêm các cơ chế hỗ trợ ngay từ giai đoạn đầu, đặc biệt là hỗ trợ kỹ thuật và chi phí để các DNNVV tiếp cận các tiêu chuẩn xanh, nhãn sinh thái hoặc các chứng chỉ phát triển bền vững. Điều này sẽ giúp DNNVV có điều kiện tham gia sâu hơn vào thị trường và chuỗi cung ứng hiện đại.

Đại diện VCCI cũng nhấn mạnh vai trò ngày càng lớn của thương mại điện tử trong hoạt động xuất khẩu. Theo đó, DNNVV hiện không chỉ tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp lớn mà còn có thể trực tiếp tiếp cận thị trường quốc tế thông qua các nền tảng số. Vì vậy, các chính sách hỗ trợ cần hướng nhiều hơn tới nâng cao năng lực số, ứng dụng khoa học công nghệ và năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế cho DNNVV.

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng khoa học công nghệ, tự động hóa. Ảnh TTXVN
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng khoa học công nghệ, tự động hóa. Ảnh TTXVN

Đóng góp ý kiến về dự thảo, ông Lê Anh Văn, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đề nghị bổ sung rõ tiêu chí, xác định một số nhóm DNNVV ưu tiên hỗ trợ. Ông cũng lưu ý, nhóm chính sách hỗ trợ về tín dụng và tài chính, kế toán, đất đai thường bị vướng do không thống nhất giữa các luật. Vì vậy, Luật Hỗ trợ DNNVV (sửa đổi) phải tương thích với các luật, để bảo đảm được tính thực thi, thống nhất và hiệu quả.

Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cơ quan soạn thảo cần tiếp tục rà soát để các chính sách đưa ra thực sự “trúng” và “đúng” vấn đề mà DNNVV đang cần nhất, đồng thời đảm bảo tính khả thi trong quá trình triển khai thực hiện, như chính sách hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng…

“Để tạo niềm tin cho các tổ chức tín dụng trong việc cho vay đối với DNNVV thì cần phải xây dựng cơ sở dữ liệu DNNVV, từ đó tạo dữ liệu đáng tin cậy về hoạt động, doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền thực tế, nghĩa vụ thuế, bảo hiểm xã hội, lương, thanh toán các dịch vụ. Đây là một trong những nội dung rất quan trọng để cung cấp cho tổ chức tín dụng làm cơ sở cho vay không có tài sản bảo đảm”, đại diện Ngân hàng Nhà nước cho hay.

Theo kế hoạch, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI (dự kiến diễn ra vào tháng 10/2026).
Thế Đoàn/Báo Tin tức và Dân tộc

Lãnh đạo nên “cập nhật phiên bản quản trị” bởi học một lần là không đủ, theo TS. Nguyễn Văn Đức, chuyên gia đào tạo tại Viện Quản trị & Công nghệ FSB, Tập đoàn FPT.

Chuyên gia đào tạo lãnh đạo này nhận định, kinh nghiệm và kiến thức tích lũy có thể giúp nhà quản lý đi xa trong sự nghiệp. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và các mô hình kinh doanh mới đang khiến vòng đời của kiến thức rút ngắn đáng kể. Điều này hiện hữu rõ trong các doanh nghiệp đang chuyển đổi số, nơi tốc độ thay đổi buộc lãnh đạo phải liên tục cập nhật cách tiếp cận.

“Trong bối cảnh thay đổi nhanh, lợi thế nằm ở khả năng học nhanh và thích nghi nhanh hơn, thay vì biết nhiều hơn”, TS. Nguyễn Văn Đức nói thêm.

Quan sát trong quá trình đào tạo ở FSB, TS. Nguyễn Văn Đức nhận thấy nhiều nhà quản lý giỏi chuyên môn nhưng gặp khó khi mở rộng vai trò lãnh đạo. Đội ngũ này có thể vận hành tốt một bộ phận, nhưng thiếu góc nhìn tổng thể về chiến lược, tài chính hay quản trị tổ chức, những yếu tố quyết định sự phát triển dài hạn.

Ông đánh giá thách thức lớn nhất trong chuyển đổi số là việc thay đổi tư duy quản trị. Khi cách vận hành không thay đổi, các công cụ mới khó phát huy hiệu quả. Đồng thời, trước áp lực thay đổi, xu hướng học tập của lãnh đạo cũng đang dịch chuyển rõ rệt. Thay vì theo đuổi các chương trình dài hạn, nhiều người lựa chọn các mô hình đào tạo ngắn gọn, tập trung vào tính ứng dụng và khả năng triển khai ngay.

“Các chương trình này không chỉ chắt lọc kiến thức cốt lõi từ quản trị kinh doanh, mà còn tích hợp các nội dung mới như chiến lược, chuyển đổi số và ứng dụng AI trong vận hành doanh nghiệp”, TS. Nguyễn Văn Đức chia sẻ.

Bên cạnh đó, các nhà quản lý hiện nay cũng ưu tiên cách tiếp cận “học để làm”. Qua đó, người học có thể tiếp cận lý thuyết, được dẫn dắt bởi chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp, giúp hiểu cách áp dụng vào tình huống thực tế. Yếu tố hệ sinh thái cũng được chú trọng khi cho phép gia nhập cộng đồng các nhà quản lý, doanh nhân và chuyên gia đa lĩnh vực.

Theo TS. Nguyễn Văn Đức, việc kết nối với hệ sinh thái chuyển đổi số của các doanh nghiệp lớn như FPT giúp cập nhật nhanh các xu hướng công nghệ, đồng thời, tiếp cận các bài học đã kiểm chứng trong thực tiễn.

Lễ tốt nghiệp và vinh danh Global MiniMBA, sự kiện kết nối cộng đồng lãnh đạo trong hệ sinh thái quản trị thực tiễn và kỷ nguyên số. Ảnh: FSB
Lễ tốt nghiệp và vinh danh Global MiniMBA, sự kiện kết nối cộng đồng lãnh đạo trong hệ sinh thái quản trị thực tiễn và kỷ nguyên số. Ảnh: FSB

Dựa trên những nhu cầu này, Viện Quản trị & Công nghệ FSB, Tập đoàn FPT, thiết kế chương trình Global MiniMBA định hướng AI như một giải pháp đào tạo tinh gọn, dành cho các nhà quản lý muốn nâng cấp năng lực trong thời gian ngắn. Chương trình bao gồm nội dung cốt lõi từ MBA truyền thống, đồng thời, tích hợp các chuyên đề về chiến lược, quản trị hiện đại và ứng dụng AI trong doanh nghiệp.

Qua đó, người học có thể phát triển tư duy quản trị tổng thể, đồng thời, hiểu cách tiếp cận có hệ thống để giải quyết vấn đề kinh doanh; nâng cao năng lực ra quyết định trong môi trường biến động; tăng hiệu suất cá nhân và đóng góp ở cấp độ tổ chức; mở rộng mạng lưới kết nối với cộng đồng doanh nhân, lãnh đạo.

Giảng viên và học viên chương trình Global MiniMBA tại Viện Quản trị & Công nghệ FSB. Ảnh: FSB
Giảng viên và học viên chương trình Global MiniMBA tại Viện Quản trị & Công nghệ FSB. Ảnh: FSB

Ngoài ra, chương trình có mô hình “đa góc nhìn”. Mỗi chuyên đề được dẫn dắt bởi cả chuyên gia học thuật và lãnh đạo doanh nghiệp, giúp người học vừa nắm vững nền tảng, vừa hiểu cách triển khai thực tế.

“Với lãnh đạo, việc ‘cập nhật phiên bản’ không chỉ là nhu cầu cá nhân, mà là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của cả tổ chức”, TS. Nguyễn Văn Đức khẳng định.

Nhật Lệ

Chương trình đào tạo “Chuẩn hóa năng lực nghề nghiệp cho nhà sáng tạo nội dung thương mại số” hướng tới xây dựng lực lượng nhà sáng tạo nội dung có kiến thức, kỹ năng và hiểu biết pháp lý đầy đủ để tham gia nền kinh tế số một cách bài bản, bền vững.
Nhiều cơ hội nghề nghiệp mới cho giới trẻ

Chương trình đào tạo thường xuyên “Chuẩn hóa năng lực nghề nghiệp cho nhà sáng tạo nội dung thương mại số” vừa được chính thức công bố tại Hà Nội ngày 10/5.

Chương trình nằm trong khuôn khổ Đề án “Nâng cao năng lực kinh tế số cho 20 triệu thanh niên Việt Nam”, hướng tới xây dựng lực lượng nhà sáng tạo nội dung có kiến thức, kỹ năng và hiểu biết pháp lý đầy đủ để tham gia thị trường thương mại điện tử và nền kinh tế số một cách bài bản, bền vững.

Bà Lại Việt Anh, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số - Bộ Công Thương phát biểu tại sự kiện.
Bà Lại Việt Anh, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số – Bộ Công Thương phát biểu tại sự kiện.

Phát biểu tại sự kiện, bà Lại Việt Anh, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số – Bộ Công Thương cho biết, thời gian qua, các cơ quan quản lý nhà nước đang tăng cường phối hợp với các tổ chức hỗ trợ thanh niên, doanh nghiệp công nghệ và nền tảng số nhằm thúc đẩy hệ sinh thái thương mại điện tử phát triển theo hướng bền vững và toàn diện hơn.

“Việc hỗ trợ thanh niên tiếp cận kỹ năng kinh doanh số, kỹ năng sáng tạo nội dung và các mô hình kinh doanh mới trên nền tảng số có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực số quốc gia. Đây cũng là một trong những giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển đổi số và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế”, bà Việt Anh nhận định.

Ông Nguyễn Lâm Thanh, người đại diện của TikTok tại Việt Nam phân tích: Sự phát triển mạnh của thương mại điện tử những năm gần đây đang mở ra nhiều cơ hội nghề nghiệp mới cho giới trẻ. Người trẻ chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh kết nối Internet và kỹ năng phù hợp là đã có thể tham gia thị trường lao động số. Điều này có ý nghĩa lớn không chỉ với thanh niên tại các đô thị mà còn mở ra cơ hội tạo thu nhập cho giới trẻ ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng thương mại điện tử và kinh tế số không chỉ tạo ra việc làm mới mà còn góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong đời sống xã hội, hỗ trợ quảng bá sản vật địa phương, chỉ dẫn địa lý, văn hóa bản địa và tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh mới.

“Sự phát triển nhanh của nền kinh tế số đang làm xuất hiện nhiều nhóm nghề nghiệp mới mà trước đây chưa từng tồn tại trong hệ thống đào tạo truyền thống. Giáo dục đại học hiện nay cần gắn chặt hơn với nhu cầu xã hội và xu thế vận động của thời đại số. Các trường đại học không chỉ đào tạo kiến thức hàn lâm mà còn cần tham gia xây dựng những chương trình mang tính ứng dụng cao, giúp người học thích ứng với sự thay đổi rất nhanh của xã hội và thị trường lao động”, GS.TS Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội khuyến nghị.

Hướng tới mô hình học tập trọn đời

Ông Nguyễn Hữu Tuấn, Giám đốc Trung tâm Phát triển Thương mại điện tử và Công nghệ số, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công thương) cho hay, chương trình đào tạo “Chuẩn hóa năng lực nghề nghiệp cho nhà sáng tạo nội dung thương mại số” được thiết kế theo hướng kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.

Học viên sẽ được trang bị nền tảng kiến thức về thương mại điện tử, kỹ năng bán hàng, kỹ năng xây dựng kênh, livestream thương mại điện tử, đồng thời thường xuyên cập nhật các quy định pháp luật, chính sách thuế, quy định quảng cáo và bán hàng trên Internet.

Thương mại điện tử và kinh tế số không chỉ tạo ra việc làm mới mà còn góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong đời sống xã hội.
Thương mại điện tử và kinh tế số không chỉ tạo ra việc làm mới mà còn góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong đời sống xã hội.

Đặc biệt, chương trình không chỉ dừng lại ở đào tạo ngắn hạn mà còn hướng tới mô hình “học tập trọn đời” dành cho các nhà sáng tạo nội dung. Sau khi hoàn thành khóa đào tạo, học viên sẽ tiếp tục được hỗ trợ cập nhật chính sách mới từ cơ quan quản lý nhà nước cũng như các quy định vận hành mới nhất từ nền tảng TikTok nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khởi nghiệp kinh tế số.

Ông Nguyễn Phan Huy Khôi, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp Việt Nam, chia sẻ thêm thông tin vui: Thời gian tới, Trung tâm Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam sẽ tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu và tổ chức triển khai các hoạt động phổ cập nghề cho thanh niên, hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp. Trong đó, kinh tế số là một trong những lĩnh vực trọng điểm nhằm phát huy tinh thần xung kích của lực lượng thanh niên trong chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ vào đời sống theo tinh thần Nghị quyết 57 và thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị.

Nhiều ý kiến kỳ vọng chương trình “Chuẩn hóa năng lực nghề nghiệp cho nhà sáng tạo nội dung thương mại số” sẽ góp phần giảm nghèo thông tin về kỹ năng số, kinh tế số, từng bước hình thành hệ sinh thái đào tạo và phát triển nguồn nhân lực số bài bản tại Việt Nam, qua đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân và nâng cao năng lực cạnh tranh của lực lượng lao động trẻ trong thời đại số.

 

Ngành Công nghệ và Kinh doanh thực phẩm là một trong những ngành có tốc độ phát triển nhanh và thu hút nhiều thí sinh đăng ký theo học.

Hé lộ ngành học tiềm năng, rộng mở cơ hội việc làm bền vững. Ảnh: Tuấn Anh
Hé lộ ngành học tiềm năng, rộng mở cơ hội việc làm bền vững. Ảnh: Tuấn Anh

Nhiều bạn trẻ quan tâm

Công nghệ và Kinh doanh thực phẩm là ngành học nghiên cứu về các công nghệ bảo quản, chế biến, vệ sinh an toàn thực phẩm và kinh doanh thực phẩm.

Theo Học viện Nông nghiệp Việt Nam, sinh viên theo học ngành này được trang bị kiến thức cơ sở và chuyên ngành rộng trong lĩnh vực công nghệ và kinh doanh thực phẩm như: Kiến thức về khoa học thực phẩm, nguyên lý quản trị, kinh doanh, có khả năng vận dụng kiến thức chuyên sâu quản trị, kế toán, tài chính và marketing và kinh doanh thực phẩm.

Bên cạnh đó, sinh viên được trang bị kỹ năng thu thập, phân tích và xử lý thông tin; kỹ năng phân tích chất lượng và an toàn của nguyên liệu, bán thành phẩm và thành phẩm; kỹ năng tính toán các thông số công nghệ để lựa chọn máy và thiết bị phù hợp và đạt hiệu quả kinh tế cho quá trình sản xuất thực phẩm; kỹ năng xây dựng, điều hành quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng thực phẩm.

Chia sẻ với phóng viên, bạn Lê Cẩm Ly – sinh viên ngành Công nghệ và Kinh doanh thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, đây là ngành rất giàu tiềm năng. Với nhu cầu tiêu dùng thực phẩm an toàn, chất lượng ngày càng tăng, ngành này đang khẳng định vai trò quan trọng của mình trong chuỗi giá trị sản xuất trên thị trường và trở thành lĩnh vực có sức hút lớn trong hiện tại và tương lai.

“Em theo đuổi ngành này vì sự yêu thích và mong muốn ra trường có việc làm tốt. Vì vậy, trong quá trình học và thực hành, thực tế, em luôn nỗ lực trau dồi kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm” – Ly nói.

Ngành Công nghệ và Kinh doanh thực phẩm nhận được sự quan tâm. Ảnh: VNUA
Ngành Công nghệ và Kinh doanh thực phẩm nhận được sự quan tâm. Ảnh: VNUA

Cơ hội việc làm rộng mở

Theo các chuyên gia, nhu cầu nhân lực của ngành Công nghệ và Kinh doanh thực phẩm đang ở mức cao, tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới. Đặc biệt, doanh nghiệp đang cần nguồn nhân lực “hai trong một”.

PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh – Trưởng khoa Công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam – cho biết, khi khảo sát các doanh nghiệp, họ rất muốn có sinh viên tốt nghiệp có cả kiến thức, kỹ năng và thái độ về Công nghệ thực phẩm và Kinh doanh thực phẩm. Vì vậy, nhà trường luôn nỗ lực trong việc đào tạo, gắn kết với doanh nghiệp, chuẩn bị sẵn sàng kiến thức và tâm thế cho sinh viên sau tốt nghiệp có thể đáp ứng yêu cầu.

Sinh viên tốt nghiệp ngành Công nghệ và kinh doanh thực phẩm có thể làm việc trong các vị trí:

Nhân viên trong các phòng kinh doanh, kế hoạch, vật tư; nhân viên giám sát, đảm bảo chất lượng (QA: Quality Assurance), tổ trưởng, quản lý và chỉ đạo sản xuất… trong các doanh nghiệp chế biến và kinh doanh thực phẩm, doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Chuyên viên trong các phòng ban chuyên môn về chất lượng nông lâm thủy sản, chế biến nông sản thực phẩm, khuyến nông…

Giảng viên, nghiên cứu viên tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, các viện, trung tâm nghiên cứu về công nghệ thực phẩm, công nghệ sau thu hoạch, kinh doanh nông nghiệp và kinh doanh thực phẩm.

Tự tổ chức sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm, phụ gia thực phẩm…

Ngày 13/5, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì Hội thảo lấy ý kiến về Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và Đề án Ứng dụng AI trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.

Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo lấy ý kiến Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và Đề án Ứng dụng AI trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo lấy ý kiến Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và Đề án Ứng dụng AI trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật

Tham dự Hội thảo có đại diện các cơ quan Đảng ở Trung ương; đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp; đại diện các Bộ, ngành, địa phương; đại diện các tổ chức giáo dục, nghiên cứu; đại diện các hiệp hội và doanh nghiệp.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện Đề án trong bối cảnh khối lượng công việc lớn, nội dung mới và phạm vi tác động rộng. Theo Thứ trưởng, việc xây dựng các Đề án không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế mà còn phải phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh phát biểu khai mạc Hội thảo
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh phát biểu khai mạc Hội thảo

Thứ trưởng cho biết, quá trình xây dựng Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và Đề án Ứng dụng AI trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật cần bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn, đồng thời bám sát yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Trong đó, dữ liệu và công nghệ phải trở thành nền tảng phục vụ quản trị hiện đại, xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Nhấn mạnh yếu tố chất lượng, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh cho rằng, các Đề án chỉ thực sự có giá trị khi có tính khả thi, được triển khai hiệu quả trên thực tế và huy động được sự tham gia của các bộ, ngành, chuyên gia, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ.

Bên cạnh đó, Thứ trưởng lưu ý, trong bối cảnh công nghệ số phát triển nhanh, yêu cầu tăng trưởng ngày càng cao và nguồn lực còn hạn chế, việc triển khai phải bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải. Đồng thời, quá trình hoàn thiện thể chế cần bám sát thực tiễn, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn để tạo động lực cho phát triển.

Báo cáo tại hội thảo, đại diện Cục Công nghệ thông tin cho biết, Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật nhằm hình thành nguồn dữ liệu pháp luật thống nhất, dùng chung trên toàn quốc, phục vụ nâng cao hiệu quả xây dựng và thi hành pháp luật. Đề án hướng tới mục tiêu kép gồm xây dựng, chuẩn hóa, liên thông dữ liệu pháp luật; đồng thời thúc đẩy ứng dụng dữ liệu lớn, khai phá dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực pháp luật, tạo nền tảng phát triển dịch vụ pháp lý số.

Theo đó, Đề án đặt ra 07 nhóm mục tiêu cụ thể như: tái cấu trúc Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; chuẩn hóa 100% dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật dưới dạng máy đọc được; số hóa toàn bộ quy trình xây dựng văn bản; xây dựng kho dữ liệu pháp luật tập trung và Đồ thị tri thức pháp luật quốc gia; phát triển nền tảng tích hợp, phân tích và khai thác dữ liệu thông minh; bảo đảm dữ liệu “sẵn sàng cho AI”; ứng dụng AI phục vụ cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, hướng tới mục tiêu Top 3 ASEAN về môi trường pháp lý kinh doanh.

Đề án tập trung vào 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm: hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng công nghệ, số hóa và chuẩn hóa dữ liệu, phát triển nhân lực, thúc đẩy dịch vụ pháp lý số và LegalTech, bảo đảm an ninh dữ liệu, tăng cường hợp tác quốc tế.

Đối với Đề án Ứng dụng AI trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, mục tiêu trọng tâm là ứng dụng AI hỗ trợ soạn thảo, thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; phát hiện mâu thuẫn, chồng chéo; phân tích xu hướng vi phạm; hỗ trợ đánh giá tác động chính sách và cải cách thủ tục hành chính. Đề án cũng hướng tới phát triển trợ lý pháp lý ảo, chatbot AI, các dịch vụ pháp lý số và mô hình ngôn ngữ lớn chuyên biệt cho pháp luật Việt Nam, tích hợp trên Cổng Pháp luật quốc gia và Nền tảng số Pháp luật Việt Nam.

TS. Chu Thị Hoa, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý phát biểu tại Hội thảo
TS. Chu Thị Hoa, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý phát biểu tại Hội thảo

Phát biểu tại Hội thảo, chia sẻ về cơ chế sandbox cho xây dựng hạ tầng dữ liệu pháp luật và ứng dụng AI trong xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, TS. Chu Thị Hoa, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhu cầu về một khung thể chế linh hoạt hỗ trợ thử nghiệm và ứng dụng các công nghệ mới là rất cấp thiết. Những công nghệ mới nổi như AI, dữ liệu lớn hiện nay chưa được điều chỉnh bởi quy định hiện hành hoặc gặp rào cản do pháp luật cũ không theo kịp thực tiễn.

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) vì thế được đặt ra như một công cụ thể chế cần thiết để: (i) tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp triển khai thử nghiệm công nghệ mới trong điều kiện pháp lý đặc thù, có giám sát; (ii) giúp cơ quan nhà nước thu thập dữ liệu thực tiễn phục vụ điều chỉnh chính sách, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học – ứng dụng công nghệ – pháp luật; (iii) thúc đẩy hình thành các mô hình mới, tạo động lực tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cũng theo Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, các công nghệ AI hỗ trợ rà soát mâu thuẫn văn bản, dự báo tác động chính sách hoặc hỗ trợ tư vấn pháp luật tự động (chatbot pháp lý) cần được thử nghiệm về độ chính xác và tính khách quan. Sandbox tạo không gian để đánh giá sai số của AI trong môi trường thực tế nhưng có kiểm soát. Vì vậy, sandbox là công cụ cần thiết để giảm thiểu rào cản thể chế đối với đổi mới, đồng thời vẫn bảo đảm mục tiêu quản lý rủi ro và bảo vệ lợi ích công cộng.

Đại biểu tham tham gia phát biểu tại Hội thảo
Đại biểu tham tham gia phát biểu tại Hội thảo

Tại Hội thảo, các đại biểu tập trung thảo luận về các nội dung cơ bản như: mô hình, giải pháp xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; định vị cơ sở dữ liệu lớn và AI pháp luật trong bối cảnh mới; phát triển dữ liệu và nhân lực AI trong chuyển đổi số; khả năng tích hợp dữ liệu từ các nguồn hiện có; nhu cầu khai thác thông tin của người dân và doanh nghiệp; nhu cầu, định hướng ứng dụng AI trong xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật.

Song An

Gần 800 cán bộ phụ trách công tác tham mưu chuyển đổi số, công nghệ thông tin trong khối Đảng và Mặt trận TP.HCM tham gia chương trình tập huấn năm 2026, với yêu cầu sau khóa học phải xây dựng được sản phẩm ứng dụng cụ thể cho đơn vị.

TS Đào Văn Thành - Phó cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Cơ yếu, Văn phòng Trung ương Đảng - trình bày chuyên đề chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng - Ảnh: TRỌNG NHÂN
TS Đào Văn Thành – Phó cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Cơ yếu, Văn phòng Trung ương Đảng – trình bày chuyên đề chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng – Ảnh: TRỌNG NHÂN

Ngày 4-5, tại Học viện Cán bộ TP.HCM, lễ khai giảng chương trình tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cán bộ phụ trách công tác tham mưu chuyển đổi số, công nghệ thông tin tại các cơ quan khối Đảng và khối Mặt trận thành phố và cấp xã năm 2026 được tổ chức với sự tham gia của gần 800 học viên.

Các học viên tham gia chương trình là cán bộ phụ trách công tác tham mưu chuyển đổi số, công nghệ thông tin tại các cơ quan khối Đảng và khối Mặt trận cấp thành phố và cấp xã năm 2026.

Phát biểu tại lễ khai giảng, bà Văn Thị Bạch Tuyết – Phó bí thư Thành ủy TP.HCM – cho rằng chuyển đổi số không đơn thuần là sự thay đổi về công nghệ mà là cuộc cách mạng về tư duy, nhận thức và phương thức vận hành bộ máy. Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã xác định chuyển đổi số là động lực quan trọng để tạo đột phá về năng suất và hiệu quả quản trị.

Bà Tuyết nhấn mạnh trong bối cảnh cả nước thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, công nghệ thông tin và chuyển đổi số chính là “chìa khóa” để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

Năm 2026 được xác định là năm hành động lan tỏa chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị, với yêu cầu chuyển từ nhận thức sang hành động, từ “làm theo kế hoạch” sang “tạo ra sản phẩm cụ thể”.

Ban Chỉ đạo Thành phố thực hiện Nghị quyết 57 đã ban hành kế hoạch chuyển đổi số năm 2026 với nhiều mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, đồng thời Ban Thường vụ Thành ủy cũng đã ban hành chỉ thị về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn.

Bà Tuyết cho biết đến nay các cơ quan trong hệ thống chính trị TP.HCM đã cơ bản hoàn thiện hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, từ hạ tầng mạng, công nghệ thông tin đến trang thiết bị phục vụ công việc. Tuy nhiên, thành phố đặc biệt quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cấp cơ sở, nhằm khắc phục tình trạng nguồn nhân lực chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Chương trình tập huấn lần này nhằm trang bị kiến thức nền tảng về công nghệ thông tin và chuyển đổi số cho đội ngũ cán bộ, công chức, nâng cao kỹ năng quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng hiệu quả hạ tầng công nghệ thông tin, an toàn thông tin và các nền tảng ứng dụng số đang triển khai tại cơ quan, đơn vị.

Lớp tập huấn lần này được thiết kế theo hướng chuyên sâu, gồm cả lý thuyết, diễn tập thực chiến và xử lý tình huống thực tế. Sau khóa học, mỗi học viên được yêu cầu xây dựng sản phẩm ứng dụng cụ thể cho đơn vị mình, chuyển hóa kiến thức thành năng lực tham mưu, khắc phục tình trạng “có thiết bị nhưng không biết vận hành”.

TRỌNG NHÂN