Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cho biết nhiều doanh nghiệp vẫn mù mờ pháp lý, chỉ tập trung kinh doanh mà quên rủi ro.
Chiều 24-10 tại TP.HCM, Viện Khoa học Pháp lý và Phát triển doanh nghiệp (ILC), trực thuộc Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã chính thức được công bố thành lập. Viện sẽ tập trung nghiên cứu, đào tạo và tư vấn pháp lý.
Phát biểu tại sự kiện, Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), đã chỉ ra một thực trạng đáng lo ngại. Ông Nam cho biết, qua khảo sát, hiệp hội nhận thấy điểm yếu cốt tử của khu vực này chính là kiến thức pháp lý.
Rất nhiều doanh nghiệp giỏi kinh doanh, giỏi xoay xở thị trường, nhưng tuổi đời hoạt động trung bình lại thấp. Một lý do lớn là họ không hiểu luật.
“Thực tế nhiều giám đốc khi được hỏi về quyền và trách nhiệm của người đại diện pháp luật đã thú nhận là không biết, chỉ ra ký với luật sư để thành lập doanh nghiệp, còn lại chỉ tập trung kinh doanh, kiếm tiền. Chính sự mù mờ pháp lý này dẫn đến các rủi ro tranh chấp hợp đồng, lao động, thuế… khiến doanh nghiệp phải dừng cuộc chơi oan uổng” – TS Nam dẫn chứng.
Do đó, lãnh đạo VINASME đặt kỳ vọng lớn Viện Khoa học Pháp lý và Phát triển doanh nghiệp thành lập, với vị trí đặt tại TP.HCM – đầu tàu kinh tế cả nước, sẽ là chỗ dựa thiết thực, cung cấp các giải pháp pháp lý hiệu quả cho doanh nghiệp.

Tiếp nhận ý kiến của lãnh đạo VINASME, Luật sư Đào Văn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý và Phát triển doanh nghiệp (ILC), cam kết Viện sẽ không phải là một tổ chức nghiên cứu “tháp ngà”, mà sẽ hoạt động theo ba trụ cột thực tiễn hỗ trợ cho doanh nghiệp.
Cụ thể, viện sẽ tập trung vào nghiên cứu khoa học pháp lý ứng dụng, tập trung vào các vấn đề nóng của doanh nghiệp như tài chính, đầu tư, M&A và đặc biệt là kinh tế số, ứng dụng AI trong quản trị.
Song song đó, viện cung cấp các dịch vụ tư vấn chuyên sâu, từ quản trị rủi ro, sở hữu trí tuệ, tái cấu trúc đến hỗ trợ chuyển đổi số. Cuối cùng, viện sẽ đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp lý thực hành cho các cấp quản lý doanh nghiệp, giúp họ tự tin hơn trong các quyết định kinh doanh.
“Mục tiêu của ILC là trở thành người đồng hành tin cậy, biến các rủi ro pháp lý thành lợi thế cạnh tranh, góp phần xây dựng một cộng đồng doanh nghiệp phát triển bền vững” – ông Hưng nhấn mạnh.
Sự kiện cũng đánh dấu bước khởi đầu cho các hoạt động hợp tác sâu rộng. Ngay tại lễ công bố, Viện ILC đã tiến hành ký kết ghi nhớ hợp tác chiến lược (MOU) với hàng loạt đối tác.
Đáng chú ý là sự tham gia đa dạng của các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức pháp lý… và cả đại diện chính quyền một số xã, phường tại TP.HCM, nhằm tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ pháp lý toàn diện.
Trong khuôn khổ sự kiện này, Báo Pháp Luật TP.HCM cũng đã ký kết hợp tác với Viện ILC, cam kết đồng hành trong việc phổ biến, lan tỏa các kiến thức pháp luật kinh tế đến cộng đồng doanh nghiệp.
Theo plo.vn
Chi phí phá sản quá cao đang là rào cản lớn, khiến nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng “chết không chôn được”. Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các đại biểu và chuyên gia đã đề xuất cần có cơ chế hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hoặc lập quỹ riêng để tháo gỡ vướng mắc này trong dự án Luật Phá sản (sửa đổi).
Chiều 12/9, tiếp tục Phiên họp thứ 49, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phá sản (sửa đổi). Trong đó, chi phí phá sản và các thủ tục liên quan là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm.
“Có vụ phá sản kéo dài 16 năm vẫn đang thi hành”

Nêu ý kiến tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu cơ quan soạn thảo phải đánh giá kỹ lưỡng tác động của việc dùng ngân sách nhà nước để đảm bảo chi phí phá sản trong trường hợp doanh nghiệp không còn khả năng chi trả, đảm bảo đồng bộ với Luật Ngân sách nhà nước. Ông đặc biệt lưu ý đến việc rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục phá sản.

“Đã phá sản rồi mà thủ tục kéo dài nữa rất phiền hà. Theo báo cáo, có vụ kéo dài 10 năm, 16 năm vẫn đang thi hành. Chúng ta phải xem lại thời gian này”, Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ và yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh.
Chủ tịch Quốc hội cũng yêu cầu làm rõ các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp, HTX có cơ hội phục hồi, thay vì đi đến con đường phá sản.
Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho rằng, phần lớn các doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản thì đã kiệt quệ về tài chính, không còn khả năng ứng trước chi phí. Buộc doanh nghiệp phải tự ứng tiền là điều không khả thi.
Từ thực tế đó, Hiệp hội đề xuất miễn phí phá sản cho các doanh nghiệp không đủ điều kiện. Hai là, thành lập một quỹ hỗ trợ chi phí phá sản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, HTX, với nguồn vốn từ ngân sách hoặc xã hội hóa.

Bên cạnh đó, ông Nam cũng nhấn mạnh sự cần thiết của một cơ chế phục hồi thay vì chỉ tập trung thanh lý tài sản.
“Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn nhưng vẫn còn tiềm năng phục hồi nếu được hỗ trợ kịp thời. Chúng ta cần một cơ chế để xã hội không mất đi những doanh nghiệp vẫn còn giá trị và hàng triệu việc làm”, ông Nam nói.
Đại diện Hiệp hội cũng đề nghị bổ sung các quy định cụ thể hơn về thủ tục hòa giải, cơ chế hỗ trợ pháp lý cho chủ nợ, tổ chức hội nghị chủ nợ trực tuyến cho các vụ việc có quy mô lớn, và tăng thêm thẩm quyền cho quản tài viên, thẩm phán để giảm bớt các tầng nấc hành chính.
Giải trình, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Tiến nêu rõ, chi phí phá sản chính là một vướng mắc lớn. Ông khẳng định đây là “nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp “chết” không chôn được vì không có tiền nộp chi phí”.
Theo ông Tiến, quan điểm của Chính phủ là miễn loại phí này. Tuy nhiên, để quy trình được vận hành, đặc biệt là chi trả cho Quản tài viên, cần phải có một nguồn tài chính.
“Do đó, chúng tôi kính đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét cho phép thành lập một quỹ hoặc sử dụng ngân sách nhà nước cho mục đích này. Nếu không có cơ chế này, việc tháo gỡ sẽ rất khó khăn”, ông Tiến nói.
Cân nhắc quy định cấm đảm nhiệm chức vụ sau phá sản
Trước đó, trình bày tờ trình, Phó Chánh án Tóa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Tiến cho biết dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi) gồm 89 điều, 8 chương, được xây dựng nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định còn vướng mắc, bất cập trong thực tiễn.
Cùng đó, tháo gỡ những điểm nghẽn trong giải quyết vụ việc phá sản; tạo hành lang pháp lý thuận lợi để doanh nghiệp, HTX phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh; tuyên bố phá sản và thanh lý kịp thời những doanh nghiệp, HTX không còn khả năng phục hồi; khơi thông nguồn lực, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển nền kinh tế lành mạnh…

Phó Chánh án cho biết, dự thảo luật bổ sung khái niệm “doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng thanh toán”; sửa đổi khái niệm “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán”; quy định về lệ phí phục hồi; tạm ứng chi phí phục hồi, phá sản, chi phí phục hồi, phá sản…
Cơ quan soạn thảo cũng bổ sung trường hợp không áp dụng biện pháp cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, HTX bị tuyên bố phá sản. Cụ thể như doanh nghiệp, HTX bị tuyên bố phá sản vì lý do khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng.
Doanh nghiệp bị phá sản mà nguyên nhân dẫn đến phá sản không xuất phát từ hoạt động quản lý, điều hành, kiểm soát của người giữ chức vụ Chủ tịch, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp có vốn nhà nước được cử, chỉ định, bổ nhiệm.
Ở góc độ thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, một số ý kiến đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu nội hàm của các khái niệm này để phản ánh đúng thực chất tình trạng khó khăn của doanh nghiệp, HTX và tình trạng trở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường sau khi đã giải quyết được khó khăn về tài chính.

Về cơ chế hỗ trợ của Nhà nước cho doanh nghiệp, HTX trong giai đoạn phục hồi, Thường trực Ủy ban đề nghị nghiên cứu quy định tại dự thảo Luật theo hướng Nhà nước sẽ giãn, hoãn các loại thuế cho doanh nghiệp, HTX nợ thuế trong giai đoạn thực hiện phục hồi hoặc trong thời hạn nhất định kể từ ngày Tòa án công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hổi hoạt động kinh doanh có hiệu lực để thực hiện chính sách hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp, HTX áp dụng thủ tục phục hồi có tính khả thi và mang lại hiệu quả.
Đối với quy định cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, HTX bị tuyên bố phá sản, cơ quan thẩm tra đề nghị cân nhắc bổ sung quy định thời hạn đối với những đối tượng bị cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, HTX bị tuyên bố phá sản.
“Việc này là để họ có cơ hội sửa sai, rút kinh nghiệm từ thực tiễn quản lý điều hành, đóng góp vào phát triển nền kinh tế, bảo đảm phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, ông Mãi nêu.
Theo Danviet
Dự thảo Luật Đầu tư Kinh doanh 2025, do Bộ Tài chính chủ trì xây dựng, được xem là bước ngoặt trong cải cách thể chế, khi chuyển từ “quản lý cấp phép” sang “quản lý rủi ro và hậu kiểm”, hướng tới môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và linh hoạt trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt. Bên cạnh những điều chỉnh lớn về thủ tục, danh mục ngành nghề và cơ chế ưu đãi, khía cạnh “nhân lực trong đầu tư”, yếu tố quyết định hiệu quả dòng vốn và năng suất quốc gia, vẫn là khoảng trống cần được hoàn thiện.
Là người đã trực tiếp đào tạo và cung ứng hàng nghìn nhân sự chất lượng cao cho các tập đoàn FDI tại Việt Nam và khu vực châu Á, bà Trần Thị Lan, Giám đốc Công ty Cung ứng Nhân lực Việt – Hàn đã chia sẻ với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập góc nhìn về phát triển nguồn nhân lực trong Dự thảo Đầu tư Kinh doanh 2025.

PV: Bà đánh giá thế nào về tinh thần cải cách của Dự thảo Luật Đầu tư Kinh doanh 2025?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Đây là một bản dự thảo thể hiện rõ tinh thần cải cách thực chất và hội nhập quốc tế. So với Luật Đầu tư 2020, Dự thảo lần này đơn giản hóa hàng loạt thủ tục hành chính, mở rộng quyền tự chủ cho nhà đầu tư, đồng thời trao thêm quyền linh hoạt cho Chính phủ trong việc điều chỉnh chính sách ưu đãi phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Đáng chú ý là chuyển đổi mô hình quản lý từ “tiền kiểm sang hậu kiểm”, tức giảm bớt rào cản ban đầu nhưng tăng cường trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp. Đây là bước tiến lớn, đặc biệt có lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, nhóm vốn thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận môi trường đầu tư do chi phí tuân thủ cao.
PV: Theo bà, việc điều chỉnh Dự thảo sẽ ảnh hưởng như thế nào đến chính sách sử dụng lao động, nhất là trong khối doanh nghiệp FDI?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Về tổng thể, hiện chưa có một chương riêng biệt dành cho nội dung về nhân lực trong Dự thảo. Song đã lồng ghép nhiều quy định liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trong việc sử dụng lao động.
Đơn cử, Dự thảo quy định rõ: “Nhà đầu tư phải tuân thủ pháp luật về lao động, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.”
Điều này có nghĩa, các nội dung về hợp đồng, tiền lương, bảo hiểm, điều kiện làm việc, an toàn lao động và cấp phép cho người nước ngoài vẫn được điều chỉnh theo Bộ luật Lao động 2019.
Điểm mới đáng chú ý là Dự thảo bổ sung cơ chế ưu đãi đầu tư đặc biệt cho các dự án có hoạt động đào tạo nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Điều này cho thấy Nhà nước đã bắt đầu coi “đầu tư vào con người” là một dạng đầu tư ưu tiên, bên cạnh đầu tư vào hạ tầng và tài chính. Dự thảo Luật Đầu tư Kinh doanh 2025 có nhiều điểm linh hoạt hơn nhằm đầu tư vào nhân lực chất lượng cao để kinh doanh bền vững.
PV: Theo bà, việc “đầu tư gắn với nhân lực” được thể hiện ra sao trong Dự thảo lần này?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Hiện nay, các quy định mới chủ yếu mang tính khuyến khích chứ chưa có ràng buộc cụ thể. Ví dụ, quy định các dự án được hưởng ưu đãi đặc biệt nếu “gắn với đào tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển chuỗi giá trị, đổi mới sáng tạo”. Tuy nhiên, chưa có điều khoản bắt buộc doanh nghiệp FDI phải có kế hoạch đào tạo hoặc chuyển giao kỹ năng cho lao động Việt Nam. Tôi cho rằng, để thực sự nâng chất lượng đầu tư và phát triển bền vững, luật cần có cơ chế giám sát và khuyến khích doanh nghiệp FDI đầu tư nhân lực song hành với đầu tư vốn. Đây là mô hình mà nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia đã áp dụng thành công, giúp hình thành lực lượng lao động bản địa có kỹ năng toàn cầu.
PV: Còn đối với người lao động nước ngoài làm việc cho các doanh nghiệp tại Việt Nam thì sao, thưa bà?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Dự thảo không trực tiếp điều chỉnh việc cấp phép lao động hay cư trú cho người nước ngoài, vì đây là phạm vi của Bộ luật Lao động 2019 và Luật Nhập cảnh, Xuất cảnh, Quá cảnh, Cư trú 2014 (sửa đổi 2020). Tuy nhiên, điểm mới về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư là có xét đến “tác động của việc sử dụng lao động nước ngoài đối với an ninh, quốc phòng và an sinh xã hội.” Đây là bước tiếp cận cân bằng và thận trọng: tạo điều kiện để các nhà đầu tư quốc tế chủ động tuyển dụng chuyên gia nước ngoài, nhưng cũng yêu cầu cam kết tỷ lệ đào tạo kế cận cho lao động Việt Nam, nhằm giảm phụ thuộc vào nhân sự ngoại quốc trong dài hạn.
PV: Theo bà, liên quan đến nhân lực, doanh nghiệp cần lưu ý những điểm mới nào trong Dự thảo?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Có ba điểm chính mà doanh nghiệp Việt và doanh nghiệp FDI cần chú ý.
Linh hoạt trong danh mục ngành nghề có điều kiện: Chính phủ được quyền cập nhật danh mục thường xuyên, thay vì cố định trong luật. Doanh nghiệp phải theo dõi sát để không vi phạm khi tuyển dụng nhân sự thuộc ngành nghề mới được bổ sung hoặc loại bỏ. Thay đổi về trình tự cấp phép đầu tư: Dự thảo cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp trước khi xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC). Đây là bước tiến lớn, song đòi hỏi doanh nghiệp chuẩn bị sẵn đội ngũ nhân sự, hệ thống vận hành và bộ máy pháp lý phù hợp ngay từ đầu. Chính sách ưu đãi đặc biệt: Các dự án có đào tạo nhân lực, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ESG hoặc phát triển bền vững sẽ được hưởng ưu đãi cao hơn về thuế, đất đai và thủ tục hành chính.
Đây là cơ hội để doanh nghiệp Việt tái cấu trúc nguồn lực chuyển từ “đầu tư bằng tiền” sang “đầu tư bằng tri thức”.

PV: Với kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực nhân sự, bà có khuyến nghị gì cho doanh nghiệp Việt và doanh nghiệp FDI?
Chuyên gia Trần Thị Lan:Tôi có ba khuyến nghị lớn:
Thứ nhất, doanh nghiệp Việt cần coi nhân lực là tài sản đầu tư chiến lược. Cần chuẩn hóa quy trình đào tạo, đánh giá năng lực và xây dựng đội ngũ chuyên gia có thể làm việc xuyên quốc gia.
Thứ hai, doanh nghiệp FDI nên triển khai “chuyển giao mềm”, tức đào tạo người Việt tiếp quản dần các vị trí quản lý, kỹ thuật, thay vì phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài.
Thứ ba, cơ quan quản lý nên sớm hình thành “Cổng dữ liệu nhân lực đầu tư quốc gia”, liên thông giữa các Bộ, giúp kết nối cung – cầu nhân lực chất lượng cao và giám sát hiệu quả của chính sách ưu đãi nhân lực.
PV: Bà có thể chia sẻ thêm mô hình cung ứng nhân lực hiệu quả cho các doanh nghiệp mà bà đã ứng dụng thành công trong thời gian qua?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Hiện nay, chúng tôi định hướng phát triển mô hình cung cấp nhân lực theo hệ sinh thái gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo – ứng dụng – hội nhập quốc tế. Cụ thể, Công ty đang vận hành chương trình “cầu nối nhân lực quốc tế”, trong đó nhân sự Việt Nam được đào tạo theo chuẩn toàn cầu và định hướng tham gia chuỗi cung ứng nhân lực chất lượng cao cho thị trường khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore. Chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc cung ứng lao động, mà còn tạo dựng hệ sinh thái nhân lực bền vững: từ đào tạo chuyên sâu, thực tập có lương tại doanh nghiệp, đến việc hỗ trợ du học sinh và phát triển kỹ năng toàn diện. Đây là mô hình được các tập đoàn FDI đánh giá cao và giúp Việt Nam từng bước khẳng định năng lực nhân lực trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Trân trọng cảm ơn bà!
DNHN
