
Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cho biết nhiều doanh nghiệp vẫn mù mờ pháp lý, chỉ tập trung kinh doanh mà quên rủi ro.
Chiều 24-10 tại TP.HCM, Viện Khoa học Pháp lý và Phát triển doanh nghiệp (ILC), trực thuộc Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã chính thức được công bố thành lập. Viện sẽ tập trung nghiên cứu, đào tạo và tư vấn pháp lý.
Phát biểu tại sự kiện, Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), đã chỉ ra một thực trạng đáng lo ngại. Ông Nam cho biết, qua khảo sát, hiệp hội nhận thấy điểm yếu cốt tử của khu vực này chính là kiến thức pháp lý.
Rất nhiều doanh nghiệp giỏi kinh doanh, giỏi xoay xở thị trường, nhưng tuổi đời hoạt động trung bình lại thấp. Một lý do lớn là họ không hiểu luật.
“Thực tế nhiều giám đốc khi được hỏi về quyền và trách nhiệm của người đại diện pháp luật đã thú nhận là không biết, chỉ ra ký với luật sư để thành lập doanh nghiệp, còn lại chỉ tập trung kinh doanh, kiếm tiền. Chính sự mù mờ pháp lý này dẫn đến các rủi ro tranh chấp hợp đồng, lao động, thuế… khiến doanh nghiệp phải dừng cuộc chơi oan uổng” – TS Nam dẫn chứng.
Do đó, lãnh đạo VINASME đặt kỳ vọng lớn Viện Khoa học Pháp lý và Phát triển doanh nghiệp thành lập, với vị trí đặt tại TP.HCM – đầu tàu kinh tế cả nước, sẽ là chỗ dựa thiết thực, cung cấp các giải pháp pháp lý hiệu quả cho doanh nghiệp.

Tiếp nhận ý kiến của lãnh đạo VINASME, Luật sư Đào Văn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý và Phát triển doanh nghiệp (ILC), cam kết Viện sẽ không phải là một tổ chức nghiên cứu “tháp ngà”, mà sẽ hoạt động theo ba trụ cột thực tiễn hỗ trợ cho doanh nghiệp.
Cụ thể, viện sẽ tập trung vào nghiên cứu khoa học pháp lý ứng dụng, tập trung vào các vấn đề nóng của doanh nghiệp như tài chính, đầu tư, M&A và đặc biệt là kinh tế số, ứng dụng AI trong quản trị.
Song song đó, viện cung cấp các dịch vụ tư vấn chuyên sâu, từ quản trị rủi ro, sở hữu trí tuệ, tái cấu trúc đến hỗ trợ chuyển đổi số. Cuối cùng, viện sẽ đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp lý thực hành cho các cấp quản lý doanh nghiệp, giúp họ tự tin hơn trong các quyết định kinh doanh.
“Mục tiêu của ILC là trở thành người đồng hành tin cậy, biến các rủi ro pháp lý thành lợi thế cạnh tranh, góp phần xây dựng một cộng đồng doanh nghiệp phát triển bền vững” – ông Hưng nhấn mạnh.
Sự kiện cũng đánh dấu bước khởi đầu cho các hoạt động hợp tác sâu rộng. Ngay tại lễ công bố, Viện ILC đã tiến hành ký kết ghi nhớ hợp tác chiến lược (MOU) với hàng loạt đối tác.
Đáng chú ý là sự tham gia đa dạng của các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức pháp lý… và cả đại diện chính quyền một số xã, phường tại TP.HCM, nhằm tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ pháp lý toàn diện.
Trong khuôn khổ sự kiện này, Báo Pháp Luật TP.HCM cũng đã ký kết hợp tác với Viện ILC, cam kết đồng hành trong việc phổ biến, lan tỏa các kiến thức pháp luật kinh tế đến cộng đồng doanh nghiệp.
Theo plo.vn
Chi phí phá sản quá cao đang là rào cản lớn, khiến nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng “chết không chôn được”. Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các đại biểu và chuyên gia đã đề xuất cần có cơ chế hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hoặc lập quỹ riêng để tháo gỡ vướng mắc này trong dự án Luật Phá sản (sửa đổi).
Chiều 12/9, tiếp tục Phiên họp thứ 49, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phá sản (sửa đổi). Trong đó, chi phí phá sản và các thủ tục liên quan là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm.
“Có vụ phá sản kéo dài 16 năm vẫn đang thi hành”

Nêu ý kiến tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu cơ quan soạn thảo phải đánh giá kỹ lưỡng tác động của việc dùng ngân sách nhà nước để đảm bảo chi phí phá sản trong trường hợp doanh nghiệp không còn khả năng chi trả, đảm bảo đồng bộ với Luật Ngân sách nhà nước. Ông đặc biệt lưu ý đến việc rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục phá sản.

“Đã phá sản rồi mà thủ tục kéo dài nữa rất phiền hà. Theo báo cáo, có vụ kéo dài 10 năm, 16 năm vẫn đang thi hành. Chúng ta phải xem lại thời gian này”, Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ và yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh.
Chủ tịch Quốc hội cũng yêu cầu làm rõ các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp, HTX có cơ hội phục hồi, thay vì đi đến con đường phá sản.
Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho rằng, phần lớn các doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản thì đã kiệt quệ về tài chính, không còn khả năng ứng trước chi phí. Buộc doanh nghiệp phải tự ứng tiền là điều không khả thi.
Từ thực tế đó, Hiệp hội đề xuất miễn phí phá sản cho các doanh nghiệp không đủ điều kiện. Hai là, thành lập một quỹ hỗ trợ chi phí phá sản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, HTX, với nguồn vốn từ ngân sách hoặc xã hội hóa.

Bên cạnh đó, ông Nam cũng nhấn mạnh sự cần thiết của một cơ chế phục hồi thay vì chỉ tập trung thanh lý tài sản.
“Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn nhưng vẫn còn tiềm năng phục hồi nếu được hỗ trợ kịp thời. Chúng ta cần một cơ chế để xã hội không mất đi những doanh nghiệp vẫn còn giá trị và hàng triệu việc làm”, ông Nam nói.
Đại diện Hiệp hội cũng đề nghị bổ sung các quy định cụ thể hơn về thủ tục hòa giải, cơ chế hỗ trợ pháp lý cho chủ nợ, tổ chức hội nghị chủ nợ trực tuyến cho các vụ việc có quy mô lớn, và tăng thêm thẩm quyền cho quản tài viên, thẩm phán để giảm bớt các tầng nấc hành chính.
Giải trình, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Tiến nêu rõ, chi phí phá sản chính là một vướng mắc lớn. Ông khẳng định đây là “nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp “chết” không chôn được vì không có tiền nộp chi phí”.
Theo ông Tiến, quan điểm của Chính phủ là miễn loại phí này. Tuy nhiên, để quy trình được vận hành, đặc biệt là chi trả cho Quản tài viên, cần phải có một nguồn tài chính.
“Do đó, chúng tôi kính đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét cho phép thành lập một quỹ hoặc sử dụng ngân sách nhà nước cho mục đích này. Nếu không có cơ chế này, việc tháo gỡ sẽ rất khó khăn”, ông Tiến nói.
Cân nhắc quy định cấm đảm nhiệm chức vụ sau phá sản
Trước đó, trình bày tờ trình, Phó Chánh án Tóa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Tiến cho biết dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi) gồm 89 điều, 8 chương, được xây dựng nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định còn vướng mắc, bất cập trong thực tiễn.
Cùng đó, tháo gỡ những điểm nghẽn trong giải quyết vụ việc phá sản; tạo hành lang pháp lý thuận lợi để doanh nghiệp, HTX phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh; tuyên bố phá sản và thanh lý kịp thời những doanh nghiệp, HTX không còn khả năng phục hồi; khơi thông nguồn lực, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển nền kinh tế lành mạnh…

Phó Chánh án cho biết, dự thảo luật bổ sung khái niệm “doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng thanh toán”; sửa đổi khái niệm “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán”; quy định về lệ phí phục hồi; tạm ứng chi phí phục hồi, phá sản, chi phí phục hồi, phá sản…
Cơ quan soạn thảo cũng bổ sung trường hợp không áp dụng biện pháp cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, HTX bị tuyên bố phá sản. Cụ thể như doanh nghiệp, HTX bị tuyên bố phá sản vì lý do khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng.
Doanh nghiệp bị phá sản mà nguyên nhân dẫn đến phá sản không xuất phát từ hoạt động quản lý, điều hành, kiểm soát của người giữ chức vụ Chủ tịch, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp có vốn nhà nước được cử, chỉ định, bổ nhiệm.
Ở góc độ thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, một số ý kiến đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu nội hàm của các khái niệm này để phản ánh đúng thực chất tình trạng khó khăn của doanh nghiệp, HTX và tình trạng trở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường sau khi đã giải quyết được khó khăn về tài chính.

Về cơ chế hỗ trợ của Nhà nước cho doanh nghiệp, HTX trong giai đoạn phục hồi, Thường trực Ủy ban đề nghị nghiên cứu quy định tại dự thảo Luật theo hướng Nhà nước sẽ giãn, hoãn các loại thuế cho doanh nghiệp, HTX nợ thuế trong giai đoạn thực hiện phục hồi hoặc trong thời hạn nhất định kể từ ngày Tòa án công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hổi hoạt động kinh doanh có hiệu lực để thực hiện chính sách hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp, HTX áp dụng thủ tục phục hồi có tính khả thi và mang lại hiệu quả.
Đối với quy định cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, HTX bị tuyên bố phá sản, cơ quan thẩm tra đề nghị cân nhắc bổ sung quy định thời hạn đối với những đối tượng bị cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, HTX bị tuyên bố phá sản.
“Việc này là để họ có cơ hội sửa sai, rút kinh nghiệm từ thực tiễn quản lý điều hành, đóng góp vào phát triển nền kinh tế, bảo đảm phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, ông Mãi nêu.
Theo Danviet
Sáng ngày 10/4/2026, Đoàn Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương đã có buổi làm việc với Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế (TĐTKT) năm 2026 tỉnh Quảng Ngãi nhằm đánh giá tiến độ triển khai và kết quả thực hiện trên địa bàn.
Đoàn công tác do đồng chí Tô Hoài Nam – Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Ủy viên Ban Chỉ đạo TĐTKT năm 2026 Trung ương làm Trưởng đoàn. Tiếp và làm việc với đoàn có Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Y Ngọc – Trưởng Ban Chỉ đạo TĐTKT năm 2026 tỉnh Quảng Ngãi, cùng các thành viên Ban Chỉ đạo tỉnh. Tại buổi làm việc, hai bên đã tập trung rà soát công tác tổ chức thực hiện, tuyên truyền, thu thập thông tin và những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ để bảo đảm tiến độ cuộc tổng điều tra.

Phát biểu tại buổi làm việc, ông Tô Hoài Nam nhấn mạnh, TĐTKT 2026 là kỳ tổng điều tra thứ 7 của Việt Nam, được tổ chức định kỳ 5 năm một lần theo Luật Thống kê. Đây là cuộc điều tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phản ánh toàn diện thực trạng nền kinh tế, từ quy mô, cơ cấu ngành nghề, lao động, tài sản, nguồn vốn đến mức độ ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử và chuyển đổi số trong các thành phần kinh tế. Kết quả điều tra sẽ là cơ sở quan trọng để tính toán GDP, GRDP, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và phục vụ hoạch định chính sách phát triển trong giai đoạn mới.
Theo lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi, TĐTKT 2026 diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi thời gian thực hiện được rút ngắn 7 tháng so với kế hoạch ban đầu. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.
Đáng chú ý, cuộc tổng điều tra năm nay cũng là lần đầu được triển khai trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi mới sau sáp nhập. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, tỉnh Quảng Ngãi được hình thành trên cơ sở hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của hai tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum. Từ ngày 01/7/2025, chính quyền tỉnh mới chính thức vận hành với diện tích hơn 14.832 km², dân số trung bình năm 2025 đạt hơn 1,88 triệu người, gồm 96 đơn vị hành chính cấp xã. Địa bàn mở rộng tạo dư địa phát triển lớn hơn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác thống kê, chuẩn hóa và quản trị dữ liệu.

Về nền tảng kinh tế, quy mô GRDP của tỉnh Quảng Ngãi năm 2025 đạt 191.612,3 tỷ đồng, chiếm 1,49% tổng GDP cả nước và 12,2% GRDP vùng. Trong cơ cấu kinh tế, công nghiệp – xây dựng tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm gần 42% GRDP; dịch vụ chiếm gần 28%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm hơn 17%. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021 – 2025 đạt 7,2%/năm; riêng quý I/2026 ước tăng 8,24%. Đây là cơ sở để tỉnh xác định TĐTKT 2026 không chỉ là nhiệm vụ thống kê đơn thuần mà còn là nền tảng xây dựng dữ liệu phục vụ chiến lược phát triển dài hạn.
Theo Ban Chỉ đạo tỉnh, giai đoạn 1 của cuộc tổng điều tra đã hoàn thành toàn diện với kết quả tích cực. Toàn tỉnh đã điều tra 111.311 cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, gồm 3.833 phiếu mẫu và 107.478 phiếu toàn bộ, đạt 100% kế hoạch. Cùng với đó, 500/500 cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng và 158/158 tổ hợp tác cũng hoàn thành điều tra, đạt tỷ lệ tuyệt đối. Kết quả này cho thấy sự chủ động của ngành thống kê và chính quyền cơ sở trong tổ chức triển khai ngay từ đầu.
Bước sang giai đoạn 2, từ ngày 01/3 đến 30/4/2026, tỉnh tập trung thu thập thông tin đối với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, hội, hiệp hội và các tổ chức phi chính phủ. Đây là giai đoạn có khối lượng công việc lớn, yêu cầu cao về độ chính xác, trong khi nhiều đơn vị vẫn chậm kê khai.
Tính đến 17 giờ ngày 09/4/2026, toàn tỉnh có 4.669/11.191 doanh nghiệp đã hoàn thành hoặc đang kê khai, đạt 41,72%. Trong đó, 2.835 doanh nghiệp đã hoàn thành kê khai, tương đương 25,33%; số doanh nghiệp được điều tra viên xác nhận hoàn thành là 1.184/2.835, đạt 41,76%. Dù tỷ lệ này cao hơn bình quân chung cả nước, tiến độ tổng thể vẫn còn chậm so với yêu cầu.

Đối với khối đơn vị sự nghiệp công lập, đã có 25/34 đơn vị hoàn thành hoặc đang kê khai, đạt 73,53%; trong đó 14 đơn vị hoàn thành, đạt 41,18%. Với khối hội, hiệp hội, có 39/71 đơn vị hoàn thành hoặc đang kê khai, đạt 54,93%; trong đó 32 đơn vị hoàn thành, đạt 45,07%. Những con số này cho thấy nỗ lực lớn của địa phương, song áp lực hoàn thành mục tiêu trong tháng 4 vẫn rất lớn.
Để đẩy nhanh tiến độ, tỉnh Quảng Ngãi đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tuyên truyền như treo băng rôn, phát thông báo trên các tuyến đường, truyền thông qua hệ thống loa cơ sở, nhóm Zalo cộng đồng, xây dựng chuyên mục riêng trên cổng thông tin điện tử ngành thống kê, thiết kế infographic và phối hợp với cơ quan báo chí, truyền hình để lan tỏa thông tin về mục đích, ý nghĩa cuộc tổng điều tra. Đồng thời, tỉnh tổ chức lễ ra quân tại nhiều địa phương, tăng cường kiểm tra, giám sát theo đúng quy trình của Ban Chỉ đạo Trung ương để bảo đảm chất lượng dữ liệu ngay từ khâu thu thập.
Lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi khẳng định, thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục rà soát tiến độ từng địa bàn, tăng cường đôn đốc doanh nghiệp kê khai đúng hạn, đồng thời đẩy mạnh hậu kiểm, làm sạch dữ liệu. Mục tiêu là hoàn thành đúng tiến độ cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026, tạo nền tảng dữ liệu tin cậy phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
DN&HN
(VINASME) – Ngày 16/01/2026 tại trụ sở Hiệp hội, đồng chí Nguyễn Đức Hải – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội đến thăm và làm việc với Ban Thường vụ và cán bộ chủ chốt Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.
Tham dự cùng đoàn có đồng chí Đồng chí Phan Văn Mãi – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội; Bà Lê Thu Hà – Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội;
Đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; Đồng chí Trần Hồng Nguyên – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội và một số đồng chí Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội.
Thành phần đón tiếp đoàn có đồng chí Nguyễn Văn Thân – Đại biểu Quốc hội khóa XV, Chủ tịch Hiệp hội; đồng chí Tô Hoài Nam – Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký và các đồng chí Phó Chủ tịch Hiệp hội, các đồng chí trong Ban Thường vụ, Trưởng các ban, đơn vị trực thuộc.
Tham dự còn có phóng viên của một số cơ quan thông tấn báo chí Trung ương đến đưa tin.

Báo cáo tại buổi làm việc, đồng chí Tô Hoài Nam – Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký đã báo cáo tóm tắt kết quả hoạt động của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã đạt được trong 20 năm qua.

Thay mặt lãnh đạo Quốc hội, đồng chí Nguyễn Đức Hải – Phó Chủ tịch Quốc hội đã đánh giá cao những thành tích của Hiệp hội đã đạt được trong 20 năm qua, những kết quả đó thể hiện Hiệp hội là mái nhà chung của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.
Đồng chí Nguyễn Đức Hải cho rằng DNNVV không chỉ là khu vực chiếm tỷ trọng lớn về số lượng doanh nghiệp, lao động và đóng góp GDP, mà còn là “nguồn dự trữ chiến lược” cho sự hình thành những tập đoàn kinh tế mạnh trong tương lai.
Dẫn lại kinh nghiệm quốc tế, Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh nhiều tập đoàn lớn mạnh trên thế giới như Apple, Microsoft hay những thương hiệu lớn trong nước đều khởi nguồn từ những cơ sở sản xuất rất nhỏ, thậm chí chỉ là những nhóm khởi nghiệp trong gara, xưởng nhỏ. Điều cốt lõi không nằm ở quy mô ban đầu mà ở khả năng tích lũy năng lực quản trị, công nghệ, thị trường và tinh thần đổi mới sáng tạo.
Theo đồng chí Nguyễn Đức Hải, SME chính là “hạt mầm” của nền kinh tế. Nếu được nuôi dưỡng đúng cách bằng thể chế thông thoáng, chính sách ổn định và môi trường kinh doanh minh bạch, khu vực này sẽ từng bước trưởng thành, tạo ra lớp doanh nghiệp dẫn dắt nền kinh tế trong dài hạn. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động khó lường, đứt gãy chuỗi cung ứng, thiên tai và rủi ro địa chính trị gia tăng, SME lại càng thể hiện rõ lợi thế linh hoạt, thích ứng nhanh và khả năng xoay chuyển mô hình kinh doanh.
Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng năng lực đại diện, tiếng nói chính sách và sức ảnh hưởng xã hội của cộng đồng SME chưa tương xứng với vai trò, quy mô đóng góp thực tế. Điều này đặt ra yêu cầu VINASME cần tiếp tục nâng cao chất lượng phản biện chính sách, kết nối hiệu quả hơn giữa doanh nghiệp với các cơ quan hoạch định thể chế, đồng thời tăng tính chuyên nghiệp trong hoạt động hỗ trợ hội viên.

Kết thúc buổi làm việc, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải bày tỏ kỳ vọng VINASME sẽ tiếp tục đổi mới tư duy hoạt động, nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách, tăng cường kết nối doanh nghiệp theo chuỗi giá trị và trở thành cầu nối tin cậy giữa Nhà nước với cộng đồng doanh nghiệp.
Trần Hiển
(VINASME) – Ngày 12/01/2026 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác đối với người được dự kiến giới thiệu ứng cử ĐBQH khóa XVI dưới sự chủ trì của đồng chí Tô Hoài Nam – Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký.
Tham dự hội nghị có đồng chí Nguyễn Văn Thân – Đại biểu Quốc hội khóa XV, Chủ tịch Hiệp hội; các đồng chí Phó Chủ tịch Hiệp hội, các đồng chí trong Ban Thường vụ, Trưởng các ban, đơn vị trực thuộc Trung ương Hội.
Tại Hội nghị, đồng chí Tô Hoài Nam – Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký đã thông báo kết quả cuộc họp Ban lãnh đạo Hiệp hội 100% ý kiến thống nhất giới thiệu đồng chí Nguyễn Văn Thân – Đại biểu Quốc hội khóa XV, Chủ tịch Hiệp hội tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.
Đồng chí Tô Hoài Nam khẳng định, việc giới thiệu đồng chí Nguyễn Văn Thân – Chủ tịch Hiệp hội được thực hiện đúng quy trình, bảo đảm các quy định của pháp luật. Hội nghị tiến hành lấy ý kiến cử tri theo quy định, làm cơ sở để hoàn thiện các bước tiếp theo trong quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội.

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Thân đã gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ nhân viên toàn cơ quan đã tin tưởng giới thiệu mình tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI. Đây là vừa là vinh dự của bản thân nhưng cũng là trách nhiệm lớn lao để đưa tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp đến với Quốc hội và Chính phủ. Nếu được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội, đồng chí Nguyễn Văn Thân khẳng định sẽ nỗ lực thực hiện tốt vai trò là đại biểu của Nhân dân, đại biểu của Hiệp hội và của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã tiến hành biểu quyết thể hiện sự tín nhiệm đối với người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI bằng hình thức giờ tay. Kết quả biểu quyết 100% đại biểu tham gia dự trực tiếp và trực tuyến đồng ý giới thiệu đồng chí Nguyễn Văn Thân – Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Việt Nam ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.
Trần Hiển
(VINASME) – Sáng ngày 12/01/2026 tại Hà Nội, căn cứ các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai công tác bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Thực hiện quy định tại Luật Bầu cử, Nghị quyết liên tịch số 102/2025/NQLT-UBTVQH15-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn quy trình, hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 và văn bản số 1527/MTTW-BTT ngày 26/12/2025 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về phân bổ số lượng người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI. Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tổ chức họp Ban Lãnh đạo để dự kiến giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI dưới sự chủ trì của đồng chí Tô Hoài Nam – Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký.
Tham dự cuộc họp có đồng chí Nguyễn Văn Thân – Đại biểu Quốc hội khóa XV, Chủ tịch Hiệp hội; các đồng chí Phó Chủ tịch: Nguyễn Cao Sơn, Nguyễn Kim Hùng và các đồng chí Nguyễn Văn Từ – Ủy viên Ban Thường vụ, Chánh Văn phòng Hiệp hội, đồng chí Lê Anh Văn – Ủy viên Ban Thường vụ, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ pháp luật và Phát triển nguồn nhân lực.

Tại cuộc họp Ban lãnh đạo, 100% ý kiến đã thống nhất cao giới thiệu đồng chí Nguyễn Văn Thân – Đại biểu Quốc hội khóa XV, Chủ tịch Hiệp hội tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI để giới thiệu ra Hội nghị lấy ý kiến của cử tri nơi công tác.
Trần Hiển
Dự thảo Luật Đầu tư Kinh doanh 2025, do Bộ Tài chính chủ trì xây dựng, được xem là bước ngoặt trong cải cách thể chế, khi chuyển từ “quản lý cấp phép” sang “quản lý rủi ro và hậu kiểm”, hướng tới môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và linh hoạt trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt. Bên cạnh những điều chỉnh lớn về thủ tục, danh mục ngành nghề và cơ chế ưu đãi, khía cạnh “nhân lực trong đầu tư”, yếu tố quyết định hiệu quả dòng vốn và năng suất quốc gia, vẫn là khoảng trống cần được hoàn thiện.
Là người đã trực tiếp đào tạo và cung ứng hàng nghìn nhân sự chất lượng cao cho các tập đoàn FDI tại Việt Nam và khu vực châu Á, bà Trần Thị Lan, Giám đốc Công ty Cung ứng Nhân lực Việt – Hàn đã chia sẻ với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập góc nhìn về phát triển nguồn nhân lực trong Dự thảo Đầu tư Kinh doanh 2025.

PV: Bà đánh giá thế nào về tinh thần cải cách của Dự thảo Luật Đầu tư Kinh doanh 2025?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Đây là một bản dự thảo thể hiện rõ tinh thần cải cách thực chất và hội nhập quốc tế. So với Luật Đầu tư 2020, Dự thảo lần này đơn giản hóa hàng loạt thủ tục hành chính, mở rộng quyền tự chủ cho nhà đầu tư, đồng thời trao thêm quyền linh hoạt cho Chính phủ trong việc điều chỉnh chính sách ưu đãi phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Đáng chú ý là chuyển đổi mô hình quản lý từ “tiền kiểm sang hậu kiểm”, tức giảm bớt rào cản ban đầu nhưng tăng cường trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp. Đây là bước tiến lớn, đặc biệt có lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, nhóm vốn thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận môi trường đầu tư do chi phí tuân thủ cao.
PV: Theo bà, việc điều chỉnh Dự thảo sẽ ảnh hưởng như thế nào đến chính sách sử dụng lao động, nhất là trong khối doanh nghiệp FDI?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Về tổng thể, hiện chưa có một chương riêng biệt dành cho nội dung về nhân lực trong Dự thảo. Song đã lồng ghép nhiều quy định liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trong việc sử dụng lao động.
Đơn cử, Dự thảo quy định rõ: “Nhà đầu tư phải tuân thủ pháp luật về lao động, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.”
Điều này có nghĩa, các nội dung về hợp đồng, tiền lương, bảo hiểm, điều kiện làm việc, an toàn lao động và cấp phép cho người nước ngoài vẫn được điều chỉnh theo Bộ luật Lao động 2019.
Điểm mới đáng chú ý là Dự thảo bổ sung cơ chế ưu đãi đầu tư đặc biệt cho các dự án có hoạt động đào tạo nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Điều này cho thấy Nhà nước đã bắt đầu coi “đầu tư vào con người” là một dạng đầu tư ưu tiên, bên cạnh đầu tư vào hạ tầng và tài chính. Dự thảo Luật Đầu tư Kinh doanh 2025 có nhiều điểm linh hoạt hơn nhằm đầu tư vào nhân lực chất lượng cao để kinh doanh bền vững.
PV: Theo bà, việc “đầu tư gắn với nhân lực” được thể hiện ra sao trong Dự thảo lần này?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Hiện nay, các quy định mới chủ yếu mang tính khuyến khích chứ chưa có ràng buộc cụ thể. Ví dụ, quy định các dự án được hưởng ưu đãi đặc biệt nếu “gắn với đào tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển chuỗi giá trị, đổi mới sáng tạo”. Tuy nhiên, chưa có điều khoản bắt buộc doanh nghiệp FDI phải có kế hoạch đào tạo hoặc chuyển giao kỹ năng cho lao động Việt Nam. Tôi cho rằng, để thực sự nâng chất lượng đầu tư và phát triển bền vững, luật cần có cơ chế giám sát và khuyến khích doanh nghiệp FDI đầu tư nhân lực song hành với đầu tư vốn. Đây là mô hình mà nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia đã áp dụng thành công, giúp hình thành lực lượng lao động bản địa có kỹ năng toàn cầu.
PV: Còn đối với người lao động nước ngoài làm việc cho các doanh nghiệp tại Việt Nam thì sao, thưa bà?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Dự thảo không trực tiếp điều chỉnh việc cấp phép lao động hay cư trú cho người nước ngoài, vì đây là phạm vi của Bộ luật Lao động 2019 và Luật Nhập cảnh, Xuất cảnh, Quá cảnh, Cư trú 2014 (sửa đổi 2020). Tuy nhiên, điểm mới về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư là có xét đến “tác động của việc sử dụng lao động nước ngoài đối với an ninh, quốc phòng và an sinh xã hội.” Đây là bước tiếp cận cân bằng và thận trọng: tạo điều kiện để các nhà đầu tư quốc tế chủ động tuyển dụng chuyên gia nước ngoài, nhưng cũng yêu cầu cam kết tỷ lệ đào tạo kế cận cho lao động Việt Nam, nhằm giảm phụ thuộc vào nhân sự ngoại quốc trong dài hạn.
PV: Theo bà, liên quan đến nhân lực, doanh nghiệp cần lưu ý những điểm mới nào trong Dự thảo?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Có ba điểm chính mà doanh nghiệp Việt và doanh nghiệp FDI cần chú ý.
Linh hoạt trong danh mục ngành nghề có điều kiện: Chính phủ được quyền cập nhật danh mục thường xuyên, thay vì cố định trong luật. Doanh nghiệp phải theo dõi sát để không vi phạm khi tuyển dụng nhân sự thuộc ngành nghề mới được bổ sung hoặc loại bỏ. Thay đổi về trình tự cấp phép đầu tư: Dự thảo cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp trước khi xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC). Đây là bước tiến lớn, song đòi hỏi doanh nghiệp chuẩn bị sẵn đội ngũ nhân sự, hệ thống vận hành và bộ máy pháp lý phù hợp ngay từ đầu. Chính sách ưu đãi đặc biệt: Các dự án có đào tạo nhân lực, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ESG hoặc phát triển bền vững sẽ được hưởng ưu đãi cao hơn về thuế, đất đai và thủ tục hành chính.
Đây là cơ hội để doanh nghiệp Việt tái cấu trúc nguồn lực chuyển từ “đầu tư bằng tiền” sang “đầu tư bằng tri thức”.

PV: Với kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực nhân sự, bà có khuyến nghị gì cho doanh nghiệp Việt và doanh nghiệp FDI?
Chuyên gia Trần Thị Lan:Tôi có ba khuyến nghị lớn:
Thứ nhất, doanh nghiệp Việt cần coi nhân lực là tài sản đầu tư chiến lược. Cần chuẩn hóa quy trình đào tạo, đánh giá năng lực và xây dựng đội ngũ chuyên gia có thể làm việc xuyên quốc gia.
Thứ hai, doanh nghiệp FDI nên triển khai “chuyển giao mềm”, tức đào tạo người Việt tiếp quản dần các vị trí quản lý, kỹ thuật, thay vì phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài.
Thứ ba, cơ quan quản lý nên sớm hình thành “Cổng dữ liệu nhân lực đầu tư quốc gia”, liên thông giữa các Bộ, giúp kết nối cung – cầu nhân lực chất lượng cao và giám sát hiệu quả của chính sách ưu đãi nhân lực.
PV: Bà có thể chia sẻ thêm mô hình cung ứng nhân lực hiệu quả cho các doanh nghiệp mà bà đã ứng dụng thành công trong thời gian qua?
Chuyên gia Trần Thị Lan: Hiện nay, chúng tôi định hướng phát triển mô hình cung cấp nhân lực theo hệ sinh thái gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo – ứng dụng – hội nhập quốc tế. Cụ thể, Công ty đang vận hành chương trình “cầu nối nhân lực quốc tế”, trong đó nhân sự Việt Nam được đào tạo theo chuẩn toàn cầu và định hướng tham gia chuỗi cung ứng nhân lực chất lượng cao cho thị trường khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore. Chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc cung ứng lao động, mà còn tạo dựng hệ sinh thái nhân lực bền vững: từ đào tạo chuyên sâu, thực tập có lương tại doanh nghiệp, đến việc hỗ trợ du học sinh và phát triển kỹ năng toàn diện. Đây là mô hình được các tập đoàn FDI đánh giá cao và giúp Việt Nam từng bước khẳng định năng lực nhân lực trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Trân trọng cảm ơn bà!
DNHN
