Thông tin với các cơ quan báo chí ngày 22/5 về một số nội dung liên quan đến biện pháp hoãn xuất cảnh khi nợ thuế, ông Mai Sơn, Phó Cục trưởng Cục Thuế cho biết, sau 30 ngày kể từ khi gửi thông báo mà người nộp thuế không liên hệ với cơ quan thuế, không hoàn thành nghĩa vụ thuế thì cơ quan thuế mới ban hành thông báo tạm hoãn xuất cảnh.

4 nhóm đối tượng áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh

Ngày 22/5, Cục Thuế tổ chức họp báo chuyên đề thông tin về những nội dung liên quan đến quy định về tạm hoãn xuất cảnh.

Chia sẻ tại họp báo chuyên đề, ông Mai Sơn, Phó Cục trưởng Cục Thuế cho biết việc tạm hoãn xuất cảnh đã được quy định tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, có hiệu lực từ ngày 1/7/2020 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 56/2024/QH15. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2025/NĐ-CP ngày 28/2/2025 quy định cụ thể ngưỡng áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với từng nhóm đối tượng.

Ông Mai Sơn, Phó Cục trưởng Cục Thuế chia sẻ tại họp báo chuyên đề
Ông Mai Sơn, Phó Cục trưởng Cục Thuế chia sẻ tại họp báo chuyên đề

Theo quy định hiện hành, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng đối với 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh thuộc diện bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế có số tiền nợ từ 50 triệu đồng trở lên và quá thời hạn nộp trên 120 ngày.

Thứ hai, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế với số nợ từ 500 triệu đồng trở lên và quá hạn nộp trên 120 ngày.

Thứ ba, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký nhưng vẫn còn nợ thuế quá hạn và sau 30 ngày kể từ khi cơ quan thuế thông báo sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế.

Thứ tư, người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài trước khi xuất cảnh khỏi Việt Nam nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế quá hạn.

Triển khai nhiều bước thông báo trước khi áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh

Liên quan đến phản ánh của một số cơ quan báo chí về việc người nộp thuế bị tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế số tiền nhỏ, ông Mai Sơn cho biết qua rà soát dữ liệu, các trường hợp được nêu chủ yếu là cá nhân đã bỏ địa chỉ kinh doanh, không thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế theo quy định.

Theo đại diện Cục Thuế, trước khi áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, cơ quan thuế đã thực hiện nhiều bước thông báo và liên hệ với người nộp thuế như phối hợp chính quyền địa phương xác minh địa chỉ hoạt động; gửi thông báo nợ thuế qua email, điện thoại, địa chỉ đăng ký; gửi thông báo sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trước 30 ngày đến tài khoản thuế điện tử và địa chỉ cư trú; đồng thời công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế.

Toàn cảnh Họp báo
Toàn cảnh Họp báo

Đại diện Cục Thuế cũng cho biết, hiện có một số thông tin phản ánh chưa đầy đủ về quá trình xử lý của cơ quan thuế, dễ dẫn tới hiểu chưa đúng quy định pháp luật và gây tâm lý hoang mang cho người dân.

“Sau 30 ngày kể từ khi gửi thông báo mà người nộp thuế không liên hệ với cơ quan thuế, không hoàn thành nghĩa vụ thuế thì cơ quan thuế mới ban hành thông báo tạm hoãn xuất cảnh”, ông Mai Sơn nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) cho biết, thời gian qua cơ quan thuế đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ người nộp thuế chủ động thực hiện nghĩa vụ trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế. Theo đó, cơ quan thuế tăng cường tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, gửi thư ngỏ, công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử và ứng dụng etax Mobile để người nộp thuế kịp thời tra cứu nghĩa vụ thuế.

Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) cho biết, thời gian qua cơ quan thuế đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ người nộp thuế chủ động thực hiện nghĩa vụ trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế
Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) cho biết, thời gian qua cơ quan thuế đã triển khai đồng bộ 
nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ người nộp thuế chủ động thực hiện nghĩa vụ trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế

Song song với đó, ngành thuế cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối dữ liệu điện tử với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Ngày 12/5/2026, Cục Thuế và Cục Quản lý xuất nhập cảnh đã ký Quy chế phối hợp số 01/QCPH-CT-QLXNC về truyền nhận thông tin tạm hoãn xuất cảnh và hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh bằng phương thức điện tử. Theo đó, ngay khi cơ quan thuế ký điện tử thông báo tạm hoãn hoặc hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh, dữ liệu sẽ được truyền tự động sang cơ quan xuất nhập cảnh, góp phần rút ngắn thời gian xử lý và bảo đảm quyền lợi của người nộp thuế sau khi hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.

Trần Nam

Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) phối hợp Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh tổ chức khóa cuối cùng tại địa phương. Đây là hoạt động trong chuỗi 5 khóa thuộc khuôn khổ dự án liên quan.Chương trình thuộc Dự án “Hệ sinh thái năng suất vì việc làm thỏa đáng” – sáng kiến của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), do Tổng cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ và Chính phủ Na Uy tài trợ nhằm hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng suất bền vững gắn với việc làm thỏa đáng. Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể là cơ quan chủ quản dự án, phối hợp triển khai cùng ILO tại Việt Nam.

Ông Đinh Trung Dũng, đại diện Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính phát biểu khai mạc khóa học
Ông Đinh Trung Dũng, đại diện Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp, 
Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính phát biểu khai mạc khóa học

Khóa đào tạo diễn ra trực tiếp trong 2 ngày (21-22/5), với mục tiêu nâng cao năng lực cho các cán bộ hỗ trợ doanh nghiệp tại các địa phương, các tổ chức hiệp hội về xu hướng thị trường hướng tới tính bền vững; nâng cao năng lực về chuyển đổi số, kinh nghiệm tư vấn thực tiễn trong ngành sản xuất; nâng cao nhận thức về năng suất xanh; an toàn lao động và cải thiện điều kiện làm việc trong ngành sản xuất hướng đến cải thiện năng suất và việc làm thỏa đáng.

Ông Lê Đắc Thuật, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh
Ông Lê Đắc Thuật, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh

Nội dung đào tạo tập trung vào các vấn đề: Liên kết giữa năng suất – chuyển đổi số – chuyển đổi xanh – điều kiện làm việc; vai trò của đánh giá nhu cầu trong thiết kế chương trình hỗ trợ DNNVV; giới thiệu các bộ công cụ đánh giá; xu hướng thị trường và yêu cầu mới trong tăng trưởng xanh và phát triển bền vững; các giải pháp chuyển đổi xanh trọng tâm và khả thi giúp doanh nghiệp tiết kiệm nguyên liệu, giảm hao hụt; tăng hiệu quả sử dụng năng lượng…

Ông Đinh Trung Dũng, đại diện Trung tâm Hỗ trợ Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể mong muốn với những nội dung đào tạo phong phú, chương trình tập trung vào các nhóm hoạt động cụ thể và cần thiết, liên quan tới xu hướng thị trường bền vững và yêu cầu “xanh hóa” cũng như đánh giá tác động, tư vấn giải pháp chuyển đổi kép cho các doanh nghiệp sản xuất thông qua việc áp dụng khung báo cáo ESG, công cụ tự đánh giá bền vững Basic Sustainability Assessment Tool (BSAT ),…giúp doanh nghiệp thể hiện sự minh bạch, trách nhiệm và định hướng rõ ràng về các hoạt động phát triển bền vững.

“Chúng tôi hy vọng, chương trình đào tạo này sẽ giải đáp được các thắc mắc mà các học viên, doanh nghiệp quan tâm để hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp”, ông Đinh Trung Dũng chia sẻ.

Các học viên và Ban Tổ chức chụp ảnh lưu niệm
Các học viên và Ban Tổ chức chụp ảnh lưu niệm

Ông Lê Đắc Thuật, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh đánh giá, Chương trình đào tạo rất có ý nghĩa nhằm nâng cao năng lực tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy năng suất và việc làm bền vững thông qua chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Qua đó, Chương trình sẽ giúp các doanh nghiệp nhận diện được các xu hướng thị trường bền vững và tác động đến năng suất, từ đó giúp doanh nghiệp lựa chọn và áp dụng các giải pháp phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, tăng cường kết nối chia sẻ thực tiễn và thúc đẩy mô hình phát triển.

Chương trình số 21-CTr/TU của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh về “phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026-2030” được xem là bước đi chiến lược nhằm đưa kinh tế tư nhân thật sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế tỉnh. Theo thống kê, hiện, tỉnh Bắc Ninh đang có hơn 30.000 doanh nghiệp đang hoạt động, mục tiêu đến năm 2030, tỉnh Bắc Ninh phấn đấu có 85.000 doanh nghiệp hoạt động.

Trần Nam

(sav.gov.vn) – Chiều 22/5, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước (KTNN) tổ chức họp nghiệm thu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Hoàn thiện nội dung kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp trong điều kiện áp dụng chế độ kế toán toán mới” do ThS. Nguyễn Thị Thu Trung – Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán làm Chủ nhiệm. TS. Vũ Thanh Hải – Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành IV làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, cùng tham dự cuộc họp có các thành viên Hội đồng nghiệm thu và Ban đề tài.

Quang cảnh cuộc họp
Quang cảnh cuộc họp

Ngày 17/4/2024 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 24/2024/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp với nhiều thay đổi đáng kể so với các quy định cũ, như: cho phép các đơn vị tự thiết kế, tự kê khai, tự chịu trách nhiệm về chứng từ kế toán, sổ kế toán của đơn vị mình, nơi nhận báo cáo tài chính….

Quy định mới ảnh hưởng nhiều tới công tác kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp, thay đổi kết quả thông tin mà đơn vị cung cấp – chủ yếu là các thông tin trên báo cáo tài chính và các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, tài sản công tại các đơn vị. Từ đó, tác động đến nội dung kiểm toán các đơn vị hành chính sự nghiệp của KTNN.

Theo ThS. Nguyễn Thị Thu Trung, chế độ kế toán mới giúp hệ thống thông tin tài chính, kế toán tại các đơn vị được chuẩn hoá, minh bạch và phù hợp với yêu cầu quản lý hiện đại. Nhờ đó, các kiểm toán viên (KTV) có điều kiện tiếp cận nguồn dữ liệu đầy đủ, có cấu trúc rõ ràng hơn, thuận lợi cho việc phân tích, đối chiếu và xác minh thông tin, góp phần nâng cao chất lượng bằng chứng kiểm toán và độ tin cậy của kết luận kiểm toán.

Quá trình chuyển đổi đồng thời về chế độ kế toán và tổ chức hành chính đã làm lộ rõ các khu vực tiềm ẩn rủi ro cao trong quản lý tài chính công, như: bàn giao tài sản, xử lý công nợ, chuyển tiếp dự án đầu tư và điều chỉnh nguồn kinh phí. Đây là cơ sở quan trọng để KTNN xác định trọng tâm kiểm toán một cách rõ ràng và có căn cứ.

Tuy nhiên, những thay đổi trong hệ thống kế toán mới cũng đòi hỏi KTNN phải định hình lại quy trình kiểm toán, ứng dụng dữ liệu lớn, tự động hóa, phân tích từ xa. Đồng thời, cần chuẩn hóa quy trình, rút gọn hồ sơ nhưng vẫn bảo đảm chất lượng trong thời gian ngắn.

TS. Vũ Thanh Hải - Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành IV, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu
TS. Vũ Thanh Hải – Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành IV, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu

Từ thực tiễn nêu trên, Ban đề tài đã hệ thống hóa các nội dung liên quan đến đơn vị hành chính, sự nghiệp, cơ chế quản lý tài chính và nhiệm vụ kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp; tổng hợp, phân tích các điểm mới của chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp theo Thông tư số 24/2024/TT-BTC so với các quy định trước đây. Từ đó, chỉ ra những ảnh hưởng đến hoạt động kiểm toán và đề xuất hoàn thiện nội dung kiểm toán đối với một số khoản mục và nhóm nghiệp vụ trọng yếu.

Tại buổi nghiệm thu, các thành viên Hội đồng đánh giá, Thông tư số 24/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành đã tác động trực tiếp đến hoạt động kiểm toán, do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện nội dung kiểm toán trong bối cảnh áp dụng chế độ kế toán mới là phù hợp với yêu cầu thực tiễn của KTNN hiện nay.

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho KTV khi nghiên cứu, cập nhật các thay đổi của chế độ kế toán hành chính sự nghiệp và vận dụng vào quá trình kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán. Đề tài cũng có thể phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nhất là trong bối cảnh các đơn vị hành chính, sự nghiệp bắt đầu triển khai áp dụng chế độ kế toán mới và có thể phát sinh nhiều lúng túng, sai sót trong hạch toán, lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán và quản lý tài chính, tài sản công.

ThS. Nguyễn Thị Thu Trung - Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán trình bày kết qủa nghiên cứu
ThS. Nguyễn Thị Thu Trung – Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán trình bày kết qủa nghiên cứu

Để hoàn thiện đề tài, Hội đồng nghiệm thu khuyến nghị Ban đề tài bổ sung lý luận về kiểm toán đơn vị hành chính sự nghiệp, từ đó, phân tích ảnh hưởng của việc thay đổi chế độ kế toán mới đến các nội dung kiểm toán; tinh gọn phần nền tảng, làm rõ hơn tính mới của Thông tư, tăng dung lượng cho phần phân tích ảnh hưởng tới kiểm toán và phần giải pháp hoàn thiện nội dung kiểm toán để bảo đảm đúng trọng tâm nghiên cứu.

Ban đề tài lưu ý tham khảo các văn bản quy định có liên quan của KTNN hiện hành để gia tăng tính thực tiễn và khả thi của các giải pháp, đồng thời có thể bổ sung kiến nghị phù hợp, cụ thể như: Hướng dẫn kiểm toán ngân sách bộ, ngành, cơ quan trung ương ban hành theo Quyết định số 154/QĐ-KTNN ngày 15/02/2021; Hướng dẫn kiểm toán ngân sách địa phương ban hành theo Quyết định số 185/QĐ-KTNN ngày 05/02/2026 thay thế cho Quyết định 111/QĐ-KTNN ngày 04/02/2021…

Các thành viên Hội đồng đánh giá cao kết quả nghiên cứu của Ban đề tài
Các thành viên Hội đồng đánh giá cao kết quả nghiên cứu của Ban đề tài

Phát biểu kết luận buổi nghiệm thu, TS. Vũ Thanh Hải – Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu – đánh giá cao kết quả nghiên cứu của Ban đề tài. Các kiến nghị của đề tài có tính ứng dụng trong thực tiễn hoạt động kiểm toán.

Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu đề nghị Ban đề tài tiếp thu tối đa các ý kiến của Hội đồng, trong đó lưu ý một số nội dung: Tinh gọn và làm nổi bật tính mới của đề tài; khoanh vùng phạm vi nghiên cứu, đi sâu vào những điểm mới của Thông tư số 24/2024/TT-BTC tác động đến quy trình, phương thức kiểm toán; bổ sung nội dung về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ vào hoạt động kiểm toán; gắn chặt các giải pháp, kiến nghị với việc sửa đổi hướng dẫn quy trình kiểm toán hiện hành nhằm gia tăng giá trị của đề tài.

Hội đồng nghiệm thu đánh giá đề tài xếp loại Khá./.

Việc chuẩn hóa dữ liệu kế toán không chỉ là câu chuyện tuân thủ pháp luật mà còn là điều kiện để doanh nghiệp nâng cao uy tín, tăng khả năng tiếp cận vốn và phát triển bền vững.

Trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng đẩy mạnh chuyển đổi số và sử dụng nhiều hệ thống dữ liệu phục vụ quản trị, báo cáo tài chính và điều hành sản xuất kinh doanh, yêu cầu minh bạch hóa sổ sách kế toán đang trở thành vấn đề cấp thiết.

Theo các chuyên gia, ranh giới giữa quản trị dữ liệu hợp pháp và hành vi che giấu doanh thu, làm sai lệch nghĩa vụ thuế cần được kiểm soát chặt chẽ hơn nhằm ngăn ngừa thất thu ngân sách và bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch.

Theo cơ quan thuế, qua rà soát trên phạm vi cả nước đã phát hiện hơn 400 doanh nghiệp có doanh thu từ 1.000 tỷ đồng mỗi năm nhưng vẫn kê khai lỗ.

Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp dù báo lỗ kéo dài vẫn liên tục mở rộng quy mô, tăng vốn đầu tư, làm dấy lên nghi vấn về tính trung thực trong kê khai thuế và chấp hành pháp luật kế toán.

Bà Nguyễn Thị Lan Anh, Trưởng ban Pháp chế, Cục Thuế (Bộ Tài chính) cho biết khi xuất hiện chênh lệch giữa dữ liệu nội bộ và báo cáo tài chính, cơ quan thuế sẽ không đánh giá đơn thuần trên con số mà xem xét bản chất và nguyên nhân của sự khác biệt.

Theo bà Nguyễn Thị Lan Anh, trong thực tế, sự chênh lệch số liệu có thể xuất phát từ khác biệt về thời điểm ghi nhận doanh thu, phương pháp phân bổ chi phí hoặc mô hình quản trị riêng của từng doanh nghiệp.

Hộ kinh doanh cài đặt phần mềm eTax Mobile tự kê khai thuế. (Ảnh: Thu Hiền/TTXVN)
Hộ kinh doanh cài đặt phần mềm eTax Mobile tự kê khai thuế. (Ảnh: Thu Hiền/TTXVN)

Tuy nhiên, doanh nghiệp phải có khả năng giải trình rõ ràng và lưu trữ đầy đủ hồ sơ, chứng từ để chứng minh tính hợp lý của số liệu. “Điều quan trọng là doanh nghiệp phải có quy trình dữ liệu rõ ràng để giải trình được nguyên nhân của sự chênh lệch,” bà Nguyễn Thị Lan Anh nhấn mạnh.

Theo đại diện cơ quan thuế, khi đánh giá hệ thống dữ liệu doanh nghiệp, cơ quan quản lý thường dựa trên ba tiêu chí cốt lõi gồm tính trung thực và nhất quán của dữ liệu; khả năng đối chiếu, kiểm chứng; và mức độ phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh.

Trong khi đó, ông Lê Long, Phó Cục trưởng Cục Thuế cho biết tình trạng doanh nghiệp sử dụng song song hai hệ thống sổ kế toán để che giấu doanh thu, gian lận thuế đang diễn biến ngày càng phức tạp.

Theo ông Lê Long, hành vi này không chỉ nhằm giảm nghĩa vụ thuế mà còn có thể phục vụ việc lập báo cáo tài chính thiếu trung thực để vay vốn ngân hàng, tham gia đấu thầu hoặc phục vụ các mục đích sai lệch khác.“Điều đáng lo ngại là hành vi này có thể diễn ra có hệ thống, rất tinh vi và khó phát hiện nếu không có các giải pháp quản lý dữ liệu phù hợp,” ông Lê Long nhận định.

Thực tế thời gian qua đã xuất hiện nhiều vụ việc lớn liên quan đến hành vi sử dụng song song nhiều hệ thống kế toán để che giấu doanh thu.

Theo thông tin từ Cục Thuế, vụ án tại Công ty Hoàng Long được xác định sử dụng hai hệ thống sổ sách kế toán nhằm che giấu doanh thu, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước hơn 241 tỷ đồng.

Tương tự, Công ty trách nhiệm hữu hạn Bảo Tín Minh Châu bị phát hiện sử dụng hai phần mềm kế toán để quản lý và kê khai thuế, gây thất thu khoảng 150 tỷ đồng.

Ông Lê Hồng Quang, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần MISA, cho rằng việc sử dụng song song nhiều hệ thống dữ liệu hiện khá phổ biến, đặc biệt tại các doanh nghiệp vừa và lớn.

Theo ông Lê Hồng Quang, có hệ thống phục vụ báo cáo tuân thủ, có hệ thống phục vụ quản trị chi tiết hoặc dữ liệu tạm tính để điều hành hoạt động kinh doanh. Vì vậy, việc tồn tại nhiều lớp dữ liệu không đồng nghĩa với hành vi vi phạm. Tồn tại nhiều hệ thống dữ liệu không phải vấn đề cốt lõi. Điều quan trọng là dữ liệu có đồng bộ, kiểm soát và đối chiếu được hay không. Nếu có sự chênh lệch nhưng doanh nghiệp không giải trình được thì rất dễ phát sinh rủi ro pháp lý.

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu doanh nghiệp ngày càng đa tầng và được khai thác cho nhiều mục tiêu khác nhau. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ đầu tư công nghệ mà còn phải chuẩn hóa quy trình quản trị dữ liệu.

Bà Trương Thị Mai Phương, Phó Trưởng phòng Quản lý giám sát kế toán doanh nghiệp, Cục Quản lý Giám sát kế toán kiểm toán (Bộ Tài chính) cho rằng cần phân biệt rõ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị trong doanh nghiệp.

Theo bà Trương Thị Mai Phương, kế toán tài chính phục vụ việc lập báo cáo cho các đối tượng bên ngoài như cơ quan thuế, ngân hàng, nhà đầu tư, thanh tra; trong khi kế toán quản trị phục vụ hoạt động điều hành nội bộ và phân tích tài chính.

(Ảnh: Nguyễn Thảo/TTXVN)
(Ảnh: Nguyễn Thảo/TTXVN)

“Việc tồn tại đồng thời hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế toán quản trị là phù hợp với quy định của pháp luật và không thể mặc nhiên coi đó là hành vi vi phạm,” bà Trương Thị Mai Phương nhấn mạnh.

Tuy nhiên, bà cũng lưu ý pháp luật nghiêm cấm việc lập từ hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên. Theo khoản 10 Điều 13 Luật Kế toán năm 2015, đây là hành vi bị cấm do thường gắn với mục đích che giấu doanh thu, ghi nhận sai chi phí hoặc làm sai lệch nghĩa vụ thuế.

Theo bà Trương Thị Mai Phương, ranh giới không nằm ở việc doanh nghiệp có bao nhiêu phần mềm, bao nhiêu bảng dữ liệu hay bao nhiêu báo cáo nội bộ, mà nằm ở tính trung thực, nhất quán và mục đích sử dụng dữ liệu.

Theo các chuyên gia, để ngăn chặn hành vi trốn thuế từ gốc, ngoài thanh tra và kiểm tra truyền thống, cần đẩy mạnh quản lý dựa trên dữ liệu số, kết nối liên thông hóa đơn điện tử, ngân hàng, cơ quan thuế và hệ thống kế toán doanh nghiệp.

Trong bối cảnh yêu cầu minh bạch tài chính ngày càng cao, việc chuẩn hóa dữ liệu kế toán không chỉ là câu chuyện tuân thủ pháp luật mà còn là điều kiện để doanh nghiệp nâng cao uy tín, tăng khả năng tiếp cận vốn và phát triển bền vững./.