Ngày 13/5, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì Hội thảo lấy ý kiến về Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và Đề án Ứng dụng AI trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.

Tham dự Hội thảo có đại diện các cơ quan Đảng ở Trung ương; đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp; đại diện các Bộ, ngành, địa phương; đại diện các tổ chức giáo dục, nghiên cứu; đại diện các hiệp hội và doanh nghiệp.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện Đề án trong bối cảnh khối lượng công việc lớn, nội dung mới và phạm vi tác động rộng. Theo Thứ trưởng, việc xây dựng các Đề án không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế mà còn phải phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Thứ trưởng cho biết, quá trình xây dựng Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và Đề án Ứng dụng AI trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật cần bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn, đồng thời bám sát yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Trong đó, dữ liệu và công nghệ phải trở thành nền tảng phục vụ quản trị hiện đại, xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Nhấn mạnh yếu tố chất lượng, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh cho rằng, các Đề án chỉ thực sự có giá trị khi có tính khả thi, được triển khai hiệu quả trên thực tế và huy động được sự tham gia của các bộ, ngành, chuyên gia, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ.
Bên cạnh đó, Thứ trưởng lưu ý, trong bối cảnh công nghệ số phát triển nhanh, yêu cầu tăng trưởng ngày càng cao và nguồn lực còn hạn chế, việc triển khai phải bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải. Đồng thời, quá trình hoàn thiện thể chế cần bám sát thực tiễn, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn để tạo động lực cho phát triển.
Báo cáo tại hội thảo, đại diện Cục Công nghệ thông tin cho biết, Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật nhằm hình thành nguồn dữ liệu pháp luật thống nhất, dùng chung trên toàn quốc, phục vụ nâng cao hiệu quả xây dựng và thi hành pháp luật. Đề án hướng tới mục tiêu kép gồm xây dựng, chuẩn hóa, liên thông dữ liệu pháp luật; đồng thời thúc đẩy ứng dụng dữ liệu lớn, khai phá dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực pháp luật, tạo nền tảng phát triển dịch vụ pháp lý số.
Theo đó, Đề án đặt ra 07 nhóm mục tiêu cụ thể như: tái cấu trúc Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; chuẩn hóa 100% dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật dưới dạng máy đọc được; số hóa toàn bộ quy trình xây dựng văn bản; xây dựng kho dữ liệu pháp luật tập trung và Đồ thị tri thức pháp luật quốc gia; phát triển nền tảng tích hợp, phân tích và khai thác dữ liệu thông minh; bảo đảm dữ liệu “sẵn sàng cho AI”; ứng dụng AI phục vụ cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, hướng tới mục tiêu Top 3 ASEAN về môi trường pháp lý kinh doanh.
Đề án tập trung vào 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm: hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng công nghệ, số hóa và chuẩn hóa dữ liệu, phát triển nhân lực, thúc đẩy dịch vụ pháp lý số và LegalTech, bảo đảm an ninh dữ liệu, tăng cường hợp tác quốc tế.
Đối với Đề án Ứng dụng AI trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, mục tiêu trọng tâm là ứng dụng AI hỗ trợ soạn thảo, thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; phát hiện mâu thuẫn, chồng chéo; phân tích xu hướng vi phạm; hỗ trợ đánh giá tác động chính sách và cải cách thủ tục hành chính. Đề án cũng hướng tới phát triển trợ lý pháp lý ảo, chatbot AI, các dịch vụ pháp lý số và mô hình ngôn ngữ lớn chuyên biệt cho pháp luật Việt Nam, tích hợp trên Cổng Pháp luật quốc gia và Nền tảng số Pháp luật Việt Nam.

Phát biểu tại Hội thảo, chia sẻ về cơ chế sandbox cho xây dựng hạ tầng dữ liệu pháp luật và ứng dụng AI trong xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, TS. Chu Thị Hoa, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhu cầu về một khung thể chế linh hoạt hỗ trợ thử nghiệm và ứng dụng các công nghệ mới là rất cấp thiết. Những công nghệ mới nổi như AI, dữ liệu lớn hiện nay chưa được điều chỉnh bởi quy định hiện hành hoặc gặp rào cản do pháp luật cũ không theo kịp thực tiễn.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) vì thế được đặt ra như một công cụ thể chế cần thiết để: (i) tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp triển khai thử nghiệm công nghệ mới trong điều kiện pháp lý đặc thù, có giám sát; (ii) giúp cơ quan nhà nước thu thập dữ liệu thực tiễn phục vụ điều chỉnh chính sách, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học – ứng dụng công nghệ – pháp luật; (iii) thúc đẩy hình thành các mô hình mới, tạo động lực tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Cũng theo Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, các công nghệ AI hỗ trợ rà soát mâu thuẫn văn bản, dự báo tác động chính sách hoặc hỗ trợ tư vấn pháp luật tự động (chatbot pháp lý) cần được thử nghiệm về độ chính xác và tính khách quan. Sandbox tạo không gian để đánh giá sai số của AI trong môi trường thực tế nhưng có kiểm soát. Vì vậy, sandbox là công cụ cần thiết để giảm thiểu rào cản thể chế đối với đổi mới, đồng thời vẫn bảo đảm mục tiêu quản lý rủi ro và bảo vệ lợi ích công cộng.

Tại Hội thảo, các đại biểu tập trung thảo luận về các nội dung cơ bản như: mô hình, giải pháp xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; định vị cơ sở dữ liệu lớn và AI pháp luật trong bối cảnh mới; phát triển dữ liệu và nhân lực AI trong chuyển đổi số; khả năng tích hợp dữ liệu từ các nguồn hiện có; nhu cầu khai thác thông tin của người dân và doanh nghiệp; nhu cầu, định hướng ứng dụng AI trong xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật.
Song An
Gần 800 cán bộ phụ trách công tác tham mưu chuyển đổi số, công nghệ thông tin trong khối Đảng và Mặt trận TP.HCM tham gia chương trình tập huấn năm 2026, với yêu cầu sau khóa học phải xây dựng được sản phẩm ứng dụng cụ thể cho đơn vị.

Ngày 4-5, tại Học viện Cán bộ TP.HCM, lễ khai giảng chương trình tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cán bộ phụ trách công tác tham mưu chuyển đổi số, công nghệ thông tin tại các cơ quan khối Đảng và khối Mặt trận thành phố và cấp xã năm 2026 được tổ chức với sự tham gia của gần 800 học viên.
Các học viên tham gia chương trình là cán bộ phụ trách công tác tham mưu chuyển đổi số, công nghệ thông tin tại các cơ quan khối Đảng và khối Mặt trận cấp thành phố và cấp xã năm 2026.
Phát biểu tại lễ khai giảng, bà Văn Thị Bạch Tuyết – Phó bí thư Thành ủy TP.HCM – cho rằng chuyển đổi số không đơn thuần là sự thay đổi về công nghệ mà là cuộc cách mạng về tư duy, nhận thức và phương thức vận hành bộ máy. Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã xác định chuyển đổi số là động lực quan trọng để tạo đột phá về năng suất và hiệu quả quản trị.
Bà Tuyết nhấn mạnh trong bối cảnh cả nước thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, công nghệ thông tin và chuyển đổi số chính là “chìa khóa” để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
Năm 2026 được xác định là năm hành động lan tỏa chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị, với yêu cầu chuyển từ nhận thức sang hành động, từ “làm theo kế hoạch” sang “tạo ra sản phẩm cụ thể”.
Ban Chỉ đạo Thành phố thực hiện Nghị quyết 57 đã ban hành kế hoạch chuyển đổi số năm 2026 với nhiều mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, đồng thời Ban Thường vụ Thành ủy cũng đã ban hành chỉ thị về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn.
Bà Tuyết cho biết đến nay các cơ quan trong hệ thống chính trị TP.HCM đã cơ bản hoàn thiện hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, từ hạ tầng mạng, công nghệ thông tin đến trang thiết bị phục vụ công việc. Tuy nhiên, thành phố đặc biệt quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cấp cơ sở, nhằm khắc phục tình trạng nguồn nhân lực chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Chương trình tập huấn lần này nhằm trang bị kiến thức nền tảng về công nghệ thông tin và chuyển đổi số cho đội ngũ cán bộ, công chức, nâng cao kỹ năng quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng hiệu quả hạ tầng công nghệ thông tin, an toàn thông tin và các nền tảng ứng dụng số đang triển khai tại cơ quan, đơn vị.
Lớp tập huấn lần này được thiết kế theo hướng chuyên sâu, gồm cả lý thuyết, diễn tập thực chiến và xử lý tình huống thực tế. Sau khóa học, mỗi học viên được yêu cầu xây dựng sản phẩm ứng dụng cụ thể cho đơn vị mình, chuyển hóa kiến thức thành năng lực tham mưu, khắc phục tình trạng “có thiết bị nhưng không biết vận hành”.
TRỌNG NHÂN
(Chinhphu.vn) – Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 246/TB-VPCP kết luận Phiên họp lần thứ ba năm 2026 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.

Ngày 11 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (KHCN, ĐMST, CĐS) và Đề án 06 (Ban Chỉ đạo của Chính phủ) chủ trì Phiên họp lần thứ ba năm 2026.
Trong đó, về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 5, quý II năm 2026 và thời gian tới, Thông báo số 246/TB-VPCP nêu rõ, cơ bản thống nhất đề xuất về nhiệm vụ, giải pháp theo báo cáo của Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ, các bộ, cơ quan và ý kiến của các thành viên Ban Chỉ đạo tại Phiên họp; yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương tập trung thực hiện quyết liệt, hiệu quả, không để quá hạn; trong đó lưu ý một số nội dung trọng tâm sau:
(1) Về thể chế, cơ chế, chính sách:
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan liên quan: (i) Xác định cụ thể phương án xử lý đối với các vướng mắc, điểm nghẽn, rào cản về quy định pháp luật về KHCN, ĐMST, CĐS, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong Quý II năm 2026; (ii) Rà soát, nghiên cứu đề xuất xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 367/2025/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2025) về thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công (DVC) quốc gia, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan liên quan: (i) Xây dựng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, nghiệm thu theo kết quả đầu ra đối với sản phẩm KHCN, ĐMST, CĐS, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026; (ii) Chủ động rà soát, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn và định mức kinh tế – kỹ thuật, cơ chế định giá, mua sắm, thuê dịch vụ, hướng dẫn lập dự toán, quản lý chi đối với các nhiệm vụ KHCN, ĐMST, CĐS, nhất là đối với công nghệ chiến lược (CNCL), công nghệ bản sao số và hệ thống truy xuất nguồn gốc, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan hướng dẫn các địa phương kiện toàn Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, hoàn thành trước ngày 25 tháng 5 năm 2026.
(2) Về phát triển hạ tầng số, dữ liệu và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu:
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, cơ quan liên quan tổng hợp, đánh giá, xây dựng, cập nhật Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 6 năm 2026.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương: (i) Đôn đốc hoàn thành kết nối, đồng bộ dữ liệu các CSDL quốc gia, chuyên ngành về Trung tâm dữ liệu quốc gia, hoàn thành trong tháng 9 năm 2026, hằng tháng công khai tiến độ triển khai các cơ sở dữ liệu (CSDL) từ tháng 5 năm 2026; (ii) Nghiên cứu kỹ lưỡng, đề xuất đầu tư dự án dự phòng cho Trung tâm dữ liệu quốc gia số 01 để bảo đảm sao lưu, phục hồi, vận hành liên tục, an toàn, an ninh dữ liệu, hoàn thành trong tháng 5 năm 2026.
Các Bộ: Công Thương, Giáo dục và Đào tạo, Xây dựng, Nông nghiệp và Môi trường, Y tế, Nội vụ, Công an và Thanh tra Chính phủ khẩn trương hoàn thành dự án xây dựng các CSDL quốc gia, CSDL chuyên ngành được giao; tập trung phân loại, ưu tiên làm trước các dữ liệu liên quan đến giải quyết TTHC, xử lý dứt điểm các khó khăn, vướng mắc, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.
Các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ: (i) Giao một đầu mối thống nhất về chuyển đổi số chịu trách nhiệm quản lý, điều phối hạ tầng số, nền tảng số, CSDL, kết nối, chia sẻ và bảo đảm an ninh dữ liệu, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026; (ii) Khẩn trương phối hợp với Bộ Công an và các đơn vị liên quan thực hiện chuyển dịch hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin các hệ thống thông tin, CSDL lên Trung tâm dữ liệu quốc gia theo lộ trình đã đăng ký.
Bộ Công Thương chủ trì, chỉ đạo EVN phối hợp với các địa phương rà soát, đánh giá và kiến nghị lựa chọn phương án cấp điện phù hợp đối với 410 thôn, bản chưa có điện, hoàn thành trong Quý II năm 2026. Các địa phương rà soát, xác định cụ thể các khu vực lõm sóng, trắng sóng, cập nhật vào quy hoạch, kế hoạch phát triển hạ tầng viễn thông trên địa bàn. Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tổng hợp tình hình, kết quả xử lý các điểm lõm sóng, trắng sóng, đề xuất phương án xử lý, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 7 năm 2026, phấn đấu cơ bản xử lý các khu vực lõm sóng trong năm 2026.
(3) Về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS và Đề án 06:
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan: (i) Hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường xác định nhiệm vụ CNCL, bài toán lớn, theo chức năng, nhiệm vụ tiềm năng, lợi thế của từng bộ, ngành, địa phương, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026; (ii) Rà soát, đề xuất đầu tư nâng cấp ngay, khai thác hiệu quả, liên thông các phòng thí nghiệm trọng điểm phục vụ CNCL, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan: (i) Phát triển VNeID trở thành nền tảng số quốc gia, mở rộng tiện ích phục vụ DVC, nhất là trong lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông, tư pháp, thi hành án, đấu giá tài sản và an sinh xã hội, nhiệm vụ thường xuyên; (ii) hướng dẫn, đôn đốc, tổng hợp học liệu số; xây dựng kế hoạch đào tạo, tập huấn trực tuyến; quyết liệt đôn đốc triển khai; kịp thời báo cáo, đề xuất biện pháp xử lý đối với các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện chậm trễ, kém hiệu quả, định kỳ hằng tháng báo cáo Ban Chỉ đạo kết quả triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”.
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan: (i) Xây dựng danh mục sản phẩm CNCL trong lĩnh vực công nghiệp, năng lượng, công nghiệp hỗ trợ, logistics, chuỗi cung ứng, vật liệu mới, hydrogen xanh, pin lưu trữ, thiết bị công nghiệp thông minh, lưới điện, phân phối xăng dầu, hoàn thành trong tháng 5 năm 2026; (ii) Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào khu vực FDI, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, nhất là ở khâu thiết kế, tiêu chuẩn, công nghệ lõi và thị trường, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026; (iii) Chủ trì, phối hợp với Bộ Công an triển khai định danh các nền tảng thương mại điện tử, hoàn thành trong Quý IV năm 2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan định hướng phát triển sản phẩm CNCL trong lĩnh vực nông nghiệp, môi trường, tập trung vào công nghệ sinh học, giống cây, giống con, dược liệu, thủy sản, công nghệ biển, nông nghiệp thông minh, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc, quản lý đất đai hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.
Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng danh mục phát triển sản phẩm đối với vaccine thế hệ mới sử dụng cho phòng bệnh, chữa bệnh cho người, công nghệ tế bào phục vụ điều trị cá thể bệnh mãn tính và bệnh nan y, công nghệ in 3D trong y tế, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.
Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan: (i) Xây dựng danh mục phát triển sản phẩm trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, đô thị thông minh, giao thông thông minh, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026; (ii) Phối hợp với Bộ Công an tích hợp vé ô tô, đường sắt, đường thủy lên ứng dụng VNeID, hoàn thành trong Quý IV năm 2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tập trung lựa chọn các sản phẩm tiềm năng trở thành thương hiệu quốc gia, quốc tế như dược liệu quý, giống cây trồng, vật nuôi, thủy hải sản, hoàn thành trong tháng 7 năm 2026.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương xây dựng định hướng phát triển sản phẩm du lịch thông minh, công nghiệp văn hóa, di sản số, kinh tế đêm, kinh tế di sản, kinh tế sáng tạo; xây dựng mô hình liên kết vùng trong phát triển sản phẩm du lịch, hình thành chuỗi cung ứng du lịch kết nối nhiều địa phương, nhiều loại hình dịch vụ, hoàn thành trong tháng 7 năm 2026.
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan: (i) Chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học xây dựng danh mục sản phẩm nghiên cứu khả thi, sẵn sàng chuyển giao, thương mại hóa để công bố rộng rãi, kết nối với nhu cầu của các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026; (ii) Rà soát, ban hành hướng dẫn kết nối các nền tảng học trực tuyến với nền tảng Bình dân học vụ số, hoàn thành trong tháng 7 năm 2026.
Các địa phương căn cứ tiềm năng, thế mạnh và nhu cầu phát triển, lựa chọn các sản phẩm KHCN, ĐMST trọng tâm, có giá trị gia tăng cao, có thị trường, khả năng nhân rộng; không đăng ký theo phong trào, dàn trải; năm 2026 mỗi địa phương đăng ký tối thiểu 01 sản phẩm có thể định lượng bằng giá trị; từ năm 2027, hằng năm đăng ký, triển khai tối thiểu 02 – 03 sản phẩm, xác định rõ mục tiêu, nguồn lực, thời hạn, đơn vị chủ trì, địa chỉ ứng dụng, giá trị kinh tế – xã hội và khả năng nhân rộng cụ thể; tiếp tục củng cố, phát huy hiệu quả hoạt động của Tổ công nghệ số cộng đồng, đẩy mạnh hỗ trợ người dân sử dụng DVC trực tuyến, định danh điện tử, thanh toán số và các nền tảng số thiết yếu gắn với phong trào “Bình dân học vụ số”.
(4) Về cải cách hành chính, cắt giảm TTHC, ĐKKD và cung cấp DVC trực tuyến:
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan triển khai tích hợp hệ thống thông tin giải quyết TTHC tập trung của bộ, ngành với Cổng DVC quốc gia tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, hoàn thiện hệ thống điều phối giải quyết TTHC là một cấu phần của Cổng DVC quốc gia để bảo đảm thống nhất giao diện dùng chung, tạo thuận lợi cho tiếp nhận, giải quyết TTHC, hoàn thành trong Quý II năm 2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan rà soát, đánh giá lộ trình, giải pháp triển khai mô hình hệ thống thông tin giải quyết TTHC cấp bộ, cấp tỉnh; cập nhật Kiến trúc hệ thống thông tin giải quyết TTHC, bảo đảm phù hợp với thực tiễn, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30 tháng 5 năm 2026.
Các bộ, cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ: (i) Khẩn trương hoàn thành công bố, công khai TTHC tại các Nghị quyết của Chính phủ; ban hành ngay theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn thực hiện, bảo đảm đồng bộ, thống nhất; (ii) Tiếp tục rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, các phương án phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, ĐKKD đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ để thực thi, hoàn thành trước ngày 20 tháng 5 năm 2026.
Các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ tập trung nâng cao chất lượng cung cấp DVC trực tuyến toàn trình, thanh toán trực tuyến, số hóa hồ sơ và cấp kết quả điện tử; bố trí đủ nhân lực tại Bộ phận Một cửa để tiếp nhận hồ sơ, hỗ trợ người dân thực hiện DVC trực tuyến; công khai chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; thực hiện nghiêm chế độ báo cáo theo quy định.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẩn trương tổ chức thực hiện các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương, bảo đảm hiệu quả, thông suốt, tuyệt đối không để xảy ra gián đoạn; kịp thời thông tin về các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực các khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện để được hướng dẫn, tháo gỡ, giải quyết.
(5) Về sử dụng kinh phí, vốn đầu tư và các nguồn lực:
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan liên quan: (i) Rà soát, đề xuất sửa đổi, đơn giản hóa quy trình lập dự toán, thẩm định, phân bổ, giải ngân kinh phí cho các nhiệm vụ KHCN, ĐMST, CĐS; hướng dẫn thống nhất cơ chế quản lý đầu tư, duy trì vận hành hệ thống và CSDL, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10 tháng 6 năm 2026; (ii) Rà soát tổng thể các quy định liên quan đến quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ phát triển KHCN, đề xuất phương án xử lý, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026; (iii) Khẩn trương nghiên cứu, ban hành hướng dẫn về quy trình lập dự toán, thanh quyết toán, giải ngân, bảo đảm tiến độ triển khai các dự án, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an và các cơ quan liên quan: (i) Đôn đốc, hướng dẫn việc xử lý tài sản công, trụ sở dôi dư của các cơ quan, tổ chức sau sắp xếp, vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 7 năm 2026; (ii) Kịp thời trình cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí cho việc vận hành nền tảng Bình dân học vụ số trên cơ sở tổng hợp, đề xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ theo quy định.
(6) Về tổ chức thực hiện:
Ban Chỉ đạo của Chính phủ phân công các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ theo lĩnh vực phụ trách chủ trì cùng các bộ, ngành liên quan tổ chức làm việc cụ thể với các địa phương để chỉ đạo, hướng dẫn xác định đúng tiềm năng, thế mạnh; hỗ trợ quá trình xác định nhiệm vụ, nguồn vốn đầu tư, nghiên cứu, phát triển sản phẩm đặc thù, sản phẩm CNCL của từng địa phương và quá trình quảng bá, tiêu thụ sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.
Bộ Công an chủ trì: (i) Rà soát kiến nghị, hệ thống hóa các nhiệm vụ Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo của Chính phủ giao, bảo đảm tính khả thi; tham mưu Ban Chỉ đạo của Chính phủ xử lý dứt điểm các nhóm nhiệm vụ trọng tâm, tránh dàn trải, hoàn thành trong tháng 5 năm 2026; (ii) Phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ tổ chức giao ban định kỳ hằng tháng với các bộ, ngành, địa phương để rà soát tình hình thực hiện các nhiệm vụ được giao về KHCN, ĐMST, CĐS và Đề án 06, tổng hợp báo cáo Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ và trước các phiên họp của Ban Chỉ đạo của Chính phủ; (iii) Phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng rà soát, đồng bộ dữ liệu về kết quả triển khai các nhiệm vụ trên Hệ thống theo dõi nhiệm vụ của Đề án 06 (dean06.vn) về Hệ thống theo dõi kết quả triển khai các Nghị quyết do Văn phòng Trung ương Đảng xây dựng, vận hành (theodoinq.dcs.vn), bảo đảm các bộ, ngành, địa phương chỉ cập nhật dữ liệu trên một hệ thống duy nhất; (iv) Chỉ đạo Công an cấp xã theo dõi, nắm tình hình giải quyết TTHC đối với người dân, doanh nghiệp, kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợp tồn đọng, gây phiền hà, nhũng nhiễu, phát sinh phản ánh, khiếu nại, tố cáo về hành vi sai phạm theo quy định; (v) Phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ tham mưu điều chuyển ngân sách trong lĩnh vực KHCN, ĐMST, CĐS để phát huy hiệu quả sử dụng vốn và trách nhiệm giải ngân; (vi) Chủ động đôn đốc, kiến nghị, đề xuất và tổng hợp tình hình, kết quả giải quyết các khó khăn, vướng mắc của bộ, ngành, địa phương (trong Phụ lục II kèm theo), báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 5 năm 2026.
Văn phòng Chính phủ tổng hợp các nội dung về triển khai Nghị quyết về KHCN, ĐMST, CĐS, ĐA 06, TTHC thành một báo cáo tổng hợp, báo cáo Chính phủ tại phiên họp thường kỳ và đột xuất khi cần.
Các bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ: (i) Rà soát toàn bộ các nhiệm vụ quá hạn (trong Phụ lục I kèm theo), xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm, giải pháp và lộ trình để hoàn thành; đối với các nhiệm vụ liên ngành, phức tạp, chưa có tiền lệ, bộ, cơ quan chủ trì có đánh giá, đề xuất điều chỉnh thời hạn phù hợp và xác định rõ trách nhiệm thực thi, không để chậm muộn, gửi Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo của Chính phủ trước ngày 20 tháng 5 năm 2026; (ii) Tập trung tháo gỡ những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc (trong Phụ lục II kèm theo) theo thẩm quyền; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề phát sinh, vượt thẩm quyền; (iii) Phối hợp chặt chẽ, triển khai thực hiện hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm khác theo phân công (trong Phụ lục III kèm theo), bảo đảm chất lượng, tiến độ theo quy định; (iv) Rà soát, cập nhật ngay kế hoạch triển khai, ưu tiên nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng tâm được giao, xác định rõ thời hạn hoàn thành trong từng tháng, quý, năm.
Các Tổ công tác, Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo của Chính phủ tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc, làm việc trực tiếp với các bộ, ngành, địa phương để tháo gỡ khó khăn, xử lý dứt điểm các nhiệm vụ quá hạn; tập trung rà soát, tháo gỡ điểm nghẽn cho các nhiệm vụ trọng tâm; hoàn thành đợt kiểm tra trong tháng 5 năm 2026, báo cáo kết quả trước ngày 05 tháng 6 năm 2026./.
